Tượng nhà mồ Tây Nguyên: Phong phú, đặc sắc

Theo dõi Báo Gia Lai trên Google News
(GLO)- Mỗi khi có dịp đến với vùng đất Tây Nguyên, đâu đó chúng ta tình cờ nhìn thấy những tượng gỗ dân gian, tượng nhà mồ với nhiều sắc thái khác nhau được đặt ở cổng làng, khu vực nương rẫy hoặc ở khu nhà mồ của các dân tộc thiểu số bản địa. Tượng nhà mồ thường được thể hiện rất sinh động, mỗi bức đều có ý nghĩa riêng; trong đó, tượng nhà mồ của các dân tộc Bahnar, Jrai, Ê Đê… được tạc khá phong phú và đặc sắc.

Các dân tộc Ê Đê, Jrai, Bahnar ở Tây Nguyên xem tượng nhà mồ là “linh vật” gắn liền với lễ bỏ mả, một trong những lễ hội lớn nhất của bà con xưa kia. Không ai biết việc tạc tượng nhà mồ đã có từ bao giờ, chỉ biết mỗi khi làm lễ bỏ mả là phải tạc tượng, dựng quanh ngôi mộ trước khi diễn ra các nghi lễ khác.

Tượng nhà mồ Tây Nguyên cũng được tạc rất phong phú và đa dạng. Từ những khúc gỗ vô tri, vô giác, các nghệ nhân đã tạo thành các loại hình dáng từ những con vật như: khỉ, đại bàng, chim công… đến hình tượng con người như: mẹ cõng con, ông già ngồi chống cằm, chàng trai múa trống…; thậm chí họ có thể tạc hình liên tưởng đến cuộc sống của người đã khuất trải qua.

Độc đáo, thú vị, đầy tính nghệ thuật và nhân văn nhưng người Ê Đê, Jrai, Bahnar và một số dân tộc ít người khác ở Tây Nguyên không xem tạc tượng là “nghề” mà chỉ thực hiện nó khi có việc cần. Bởi vậy, chỉ có những người đam mê, yêu thích tạc tượng mới dành thời gian tìm đến, học hỏi và tạc theo. Nghệ nhân tạc tượng Ksor Krôh (làng Mrông Ngó 1, xã Ia Ka, huyện Chư Păh) là một ví dụ điển hình. Ông cho hay: “Tôi biết tạc tượng từ khi còn nhỏ. Hồi đó, tôi lén lút người lớn nghỉ ăn cơm trưa để xem tạc tượng rồi thử tạc theo. Đến giờ, người Jrai Arap chúng tôi vẫn gìn giữ, duy trì việc tạc tượng nhà mồ. Trước khi bỏ mả phải có các loại tượng mới được”.

Tượng ông già ngồi chống cằm. Ảnh: A Dơng

Tượng ông già ngồi chống cằm. Ảnh: A Dơng

Trong khi các dân tộc Jrai và Bahnar xem tượng nhà mồ là linh vật hiển nhiên phải có khi làm lễ bỏ mả thì tượng nhà mồ người Ê Đê lại thể hiện sự phúc thọ, giàu sang, quyền quý của người đã khuất và gia đình làm lễ bỏ mả với cộng đồng. Bởi vậy, không phải ngôi mộ người Ê Đê nào khi làm lễ bỏ mả cũng được tạc, dựng tượng xung quanh.

Ông Êa Yôn (buôn Weo A, thị trấn Krông Năng, huyện Krông Năng, tỉnh Đak Lak) cho biết: “Người Ê Đê xưa kia sau khi trông nom mồ mả người chết 3-4 năm, có khi tới 5 năm mới làm lễ bỏ mả. Khi làm lễ bỏ mả, người chết dưới 60 tuổi thì chưa được tạc tượng nhà mồ (làm gơng kút, gơng klao). Những người già, giàu có, người có uy tín thì mới được tạc tượng nhà mồ khi làm lễ bỏ mả. Tổ chức lễ bỏ mả phải có trâu, bò, heo, gà… để cúng Yàng, thực hiện các nghi thức bỏ mả”.

Với dân tộc Xê Đăng ở tỉnh Kon Tum, MNông ở tỉnh Đak Nông hay Cơ Ho ở tỉnh Lâm Đồng…, bà con không tổ chức lễ bỏ mả cho nên việc tạc tượng và mục đích sử dụng nó cũng khác hơn. Chẳng hạn, với người MNông, người Cơ Ho, tượng gỗ thường tạc và đặt ở nương rẫy để xua đuổi thú rừng, bảo vệ mùa màng. Người Xê Đăng tạc tượng để trang trí hoặc để xua đuổi tà ma và tượng gỗ của người Xê Đăng được đặt ngay cổng làng. Dù sử dụng vào mục đích gì nhưng tượng gỗ dân gian của các dân tộc Cơ Ho, M'Nông hay Xê Đăng cũng rất phong phú, mỗi bức tượng đều có ý nghĩa riêng, thể hiện sinh động cuộc sống ở buôn làng.

Cụ thể như tượng gỗ để trang trí của người Xê Đăng, họ thường tạc người phụ nữ vì cho rằng “Phụ nữ chịu nhiều vất vả hơn đàn ông”. Tượng người phụ nữ đeo tấm địu như nói lên sự vất vả, chịu khó của họ, từ việc sinh con, đẻ cái đến việc bếp núc, làm nương rẫy, họ là người đảm đang, lo toan mọi việc của gia đình... Còn tượng cô gái đang yêu thì có khăn trùm đầu, kẹp tóc, nếu tượng không có khăn trùm, không kẹp tóc thì được cho rằng tượng đó tạc về người phụ nữ không đoan trang.

Riêng về tượng xua đuổi tà ma của người Xê Đăng, thì họ tạc cho thật xấu, thật kỳ dị để “ma sợ” không dám vào làng quấy phá. Ông A Đoan-nghệ nhân tạc tượng có tiếng ở xã Đak Hà, huyện Tu Mơ Rông, tỉnh Kon Tum-cho biết: “Dân tộc Xê Đăng không có lễ bỏ mả, đánh cồng chiêng, múa xoang, uống rượu ở nghĩa địa như bà con người Ê Đê, Jrai, Bahnar. Bà con trong làng tạc tượng chỉ để đặt, trang trí ở cổng làng, tượng gỗ càng dị dạng thì càng tốt để ma quỷ sợ hãi, không dám vào làng quấy rầy, gieo rắc tai họa cho người dân. Ví dụ năm đó, làng có nhiều người chết vì bệnh tật thì bà con sẽ tạc 2 bức tượng đặt ở cổng làng để xua quỷ, trừ ma”.

Với các dân tộc thiểu số Tây Nguyên, tượng gỗ dân gian, tượng nhà mồ rất gần gũi và mang ý nghĩa tâm linh, tinh thần rất lớn trong cuộc sống cộng đồng. Những hình ảnh thân quen của bức tượng là niềm tự hào riêng của các dân tộc, gợi nhớ về cội nguồn, nhớ về cuộc sống mộc mạc xưa kia của ông bà tổ tiên… Chính điều này đã thu hút nhiều thế hệ tìm đến nghệ thuật điêu khắc đặc sắc của cha ông để tiếp tục duy trì, lưu giữ.

Anh Đinh Plih (xã Tơ Tung, huyện Kbang) chia sẻ: “Mỗi dịp xuống buôn làng tình cờ nhìn thấy tượng nhà mồ, mình cảm thấy rất vui. Những ai đi làm xa, rời xa quê mà thấy tượng nhà mồ thì cảm giác nơi đó rất gần gũi, nó làm mình nhớ làng quê, nhớ về đời sống ông bà xưa kia, nhớ đến mọi người trong nhà, những người thân quý mến của mình. Bởi vậy nên mình cố gắng tạc nhiều tượng để lưu giữ cho mai sau”.

Một nghệ nhân đang thi triển tài năng và niềm đam mê tạc tượng của mình. Ảnh: A Dơng

Một nghệ nhân đang thi triển tài năng và niềm đam mê tạc tượng của mình. Ảnh: A Dơng

Hiện nay, môi trường sống thay đổi, cây rừng không được tự do chặt phá như trước, điều kiện để làm lễ bỏ mả... lại tốn kém cho nên nhiều vùng ở Tây Nguyên đã không còn tổ chức lễ bỏ mả, đồng nghĩa với việc tượng nhà mồ ngày càng ít đi. Tuy nhiên, trong cuộc sống mới ngày nay, tượng gỗ dân gian, tượng nhà mồ Tây Nguyên không còn bó hẹp trong không gian nhà mồ, khu nương rẫy hay cổng làng nữa mà được tạc, đặt ở nhiều nơi khác nhau, như: khu du lịch, những quán ăn truyền thống… Đây là cách hay để nghệ thuật điêu khắc truyền thống của các dân tộc thiểu số Tây Nguyên luôn được gìn giữ, bảo tồn.

Có thể bạn quan tâm

Nét đẹp cúng Quý xuân ở đình An Mỹ

Nét đẹp cúng Quý xuân ở đình An Mỹ

(GLO)- Cứ đến ngày 10 tháng 2 hàng năm, người dân phường An Phú (tỉnh Gia Lai) lại tổ chức Lễ cúng Đình làng An Mỹ. Đây là nét đẹp trong đời sống tín ngưỡng của người dân, thể hiện lòng biết ơn các bậc tiền hiền, hậu hiền khai hoang lập đất và cầu cho quốc thái dân an, mưa thuận gió hòa.

Các thung lũng ở Quy Nhơn xưa

Các thung lũng ở Quy Nhơn xưa

(GLO)- Trong cuốn "Du ký Trung kỳ theo đường cái quan", Camille Paris - nhà khảo cổ người Pháp từng tham gia xây dựng đường điện báo tại Trung Kỳ giai đoạn 1885-1889 đã nhắc đến 2 thung lũng nổi tiếng của Quy Nhơn xưa: thung lũng Công và thung lũng Gà.

Lễ cúng Quý Xuân tại tổ đình An Khê

Lễ cúng Quý Xuân tại tổ đình An Khê

(GLO)- Sáng 28-3 (tức mùng 10 tháng 2 âm lịch), tại đình An Khê (phường An Khê, tỉnh Gia Lai), Ban Nghi lễ đình tổ chức lễ cúng Quý Xuân trong không gian linh thiêng, rộn ràng tiếng chiêng, trống giữa tiết trời đẹp nhất của mùa xuân.

Di tích Plei Ơi chào đón du khách

Di tích Plei Ơi chào đón du khách

(GLO)- Khu di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia Plei Ơi - điểm đến mang giá trị tâm linh, lịch sử gắn với truyền thuyết Vua Lửa của đồng bào Jrai ở xã Chư A Thai - vừa được đầu tư đồng bộ, khang trang, sẵn sàng chào đón du khách trong Năm Du lịch quốc gia - Gia Lai 2026.

Lặng lẽ tìm về ký ức nghề xưa

Lặng lẽ tìm về ký ức nghề xưa

(GLO)- Cuối năm 2025, cuốn sách Nghề dệt truyền thống tỉnh Bình Định (từ thế kỷ XIX đến nay) của ThS. Hoàng Bình ra mắt bạn đọc như một công trình biên khảo công phu về một nghề thủ công từng gắn bó mật thiết với đời sống người dân đất Võ.

Bộ chiêng của các thủ lĩnh Jrai trở thành bảo vật quốc gia

Bộ chiêng Kơ Đơ trở thành bảo vật quốc gia

(GLO)- Bộ cồng chiêng Kơ Đơ (niên đại đầu thế kỷ XX) vừa được công nhận là bảo vật quốc gia. Không chỉ là nhạc cụ cổ, chiêng Kơ Đơ còn là hiện vật gắn với những thủ lĩnh Jrai xưa, phản ánh cấu trúc xã hội, đời sống tín ngưỡng và nghệ thuật âm nhạc độc đáo của cư dân Tây Nguyên.

Những mùa xuân huy hoàng trên kinh thành

Những mùa xuân huy hoàng trên kinh thành Hoàng Đế

(GLO)- Thành Hoàng Đế thuộc huyện An Nhơn, tỉnh Bình Định (cũ) là di tích duy nhất còn lại của vương triều Tây Sơn. Đây là một công trình kiến trúc thành cổ khá đặc biệt, sau 6 lần khai quật khảo cổ phục vụ nghiên cứu và trùng tu, đến nay vẫn còn nhiều bí ẩn...

Giai thoại về ba con ngựa nổi tiếng trong lịch sử

Giai thoại về ba con ngựa nổi tiếng trong lịch sử

(GLO)- Trong dòng chảy lịch sử, không chỉ có những bậc anh hùng làm nên huyền thoại, mà còn có những chiến mã góp phần tạo nên kỳ tích. Trong những thời khắc sinh tử, có 3 con ngựa nổi tiếng đã đi vào sử sách như biểu tượng của lòng trung nghĩa và sức mạnh phi thường.

Chất thuần khiết nâng tầm thổ cẩm

Chất thuần khiết nâng tầm thổ cẩm

(GLO)- Với việc hợp chuẩn OCOP, nhiều sản phẩm thổ cẩm Bahnar, Jrai ở Gia Lai bắt đầu định vị được thương hiệu. Quá trình này có công rất lớn của nhiều phụ nữ, nghệ nhân đã dồn tâm huyết từng bước đưa thổ cẩm truyền thống ra thị trường.

Tiến sĩ Lê Quang Lâm cùng câu chuyện tù và Jrai

Tiến sĩ Lê Quang Lâm cùng câu chuyện tù và Jrai

(GLO)- Hiểu về văn hóa Tây Nguyên bắt đầu từ những hiện vật dân tộc học, đó cũng là một trong những cách tiếp cận của TS. Lê Quang Lâm (phường Diên Hồng, tỉnh Gia Lai) khi nghiên cứu về văn hóa của người Jrai. Trong hàng nghìn hiện vật mà ông dày công sưu tầm, có bộ sưu tập tù và Jrai độc đáo.

Giọt nước - Mạch nguồn văn hóa Jrai

Giọt nước - Mạch nguồn văn hóa Jrai

(GLO)- Ở Tây Nguyên, những bước chân đầu ngày của người Jrai hướng về giọt nước của làng. Nguồn nước trong lành từ đó đã đi cùng các buôn làng qua bao mùa rẫy, bao thế hệ; đồng thời lưu giữ những lớp trầm tích văn hóa, tín ngưỡng và nếp sinh hoạt cộng đồng từ ngàn xưa.

null