Lặng lẽ tìm về ký ức nghề xưa

Theo dõi Báo Gia Lai trên Google News

(GLO)- Cuối năm 2025, cuốn sách Nghề dệt truyền thống tỉnh Bình Định (từ thế kỷ XIX đến nay) của ThS. Hoàng Bình ra mắt bạn đọc như một công trình biên khảo công phu về một nghề thủ công từng gắn bó mật thiết với đời sống người dân đất Võ.

ThS. Hoàng Bình sinh năm 1975, quê ở xã Ân Tường Tây, huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định (nay là xã Ân Tường, tỉnh Gia Lai). Anh tốt nghiệp chuyên ngành Thông tin - Thư viện Trường Đại học Văn hóa Hà Nội năm 1996, thạc sĩ Lịch sử Việt Nam Trường Đại học Quy Nhơn năm 2020.

Anh hiện là Phó Trưởng Phòng Hành chính - Tổng hợp (Thư viện tỉnh), hội viên Chi hội Văn nghệ dân gian (thuộc Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh).

Đằng sau cuốn sách Nghề dệt truyền thống tỉnh Bình Định (từ thế kỷ XIX đến nay) là ký ức vùng quê và hành trình bền bỉ sưu tầm, đọc tư liệu, điền dã của một cán bộ thư viện vốn say mê lịch sử và văn hóa địa phương.

Từ ký ức làng quê đến trang sách nghề xưa

* Điều gì đã thôi thúc anh dành nhiều năm nghiên cứu và biên soạn cuốn sách “Nghề dệt truyền thống tỉnh Bình Định (từ thế kỷ XIX đến nay)”?

- Từ nhỏ tôi đã quen với hình ảnh nghề trồng dâu nuôi tằm ở quê, đặc biệt ở xóm Buồng, xóm Cửi. Tuy nhiên nghề dệt thì chỉ nghe ba tôi kể lại, vì khi tôi lớn lên ở làng đã không còn gia đình nào còn giữ nghề.

Khi đọc các tư liệu cũ, tôi nhận ra nghề dệt từng giữ vai trò quan trọng trong đời sống kinh tế - văn hóa ở Bình Định. Đặc biệt dưới thời Pháp thuộc, nhà máy dệt Delignon được xây dựng tại Phú Phong (Tây Sơn) vào năm 1903. Tuy vậy, các công trình nghiên cứu chuyên sâu về nghề dệt ở Bình Định còn khá ít, tư liệu lại nằm rải rác ở nhiều nguồn.

Hơn 10 năm trước, tôi bắt đầu tìm hiểu và sưu tầm tư liệu. Ban đầu chỉ là ghi chép cá nhân, nhưng càng đọc càng thấy nhiều điều thú vị. Những tư liệu về các làng dệt, về sản phẩm vải vóc từng được buôn bán rộng rãi… dần dần hình thành trong tôi ý tưởng thực hiện một công trình biên khảo về vấn đề này.

* Để thực hiện cuốn sách, chắc chắn anh đã tiếp cận nhiều nguồn tư liệu…

1.jpg
ThS. Hoàng Bình đã dành nhiều tâm huyết cho cuốn sách Nghề dệt truyền thống tỉnh Bình Định (từ thế kỷ XIX đến nay). Ảnh: N.N

- Đúng vậy. Tôi sử dụng khá nhiều nguồn tư liệu khác nhau, và buộc phải như thế mới có thể so sánh, đối chiếu.

Trước hết là các sách địa chí và sách sử triều Nguyễn như: Đại Nam nhất thống chí, Đồng Khánh dư địa chí, cùng nhiều tài liệu lưu trữ về thương mại và nghề thủ công ở miền Trung.

Ngoài ra còn có các công trình liên quan đến Bình Định như: Nghiên cứu địa bạ triều Nguyễn, phần tỉnh Bình Định của Nguyễn Đình Đầu, Nước non Bình Định của Quách Tấn, Địa dư mông học tỉnh Bình Định của Bùi Văn Lăng, những đoạn ghi chép về nghề dệt hoặc hoạt động buôn bán vải trong hồi ký của Trần Duy Đức…

Tôi cũng khai thác nhiều tư liệu tiếng Pháp từ kho dữ liệu mở của Thư viện quốc gia Pháp, Viện Viễn Đông Bác cổ Pháp cùng một số nguồn trên internet.

Bên cạnh việc đọc tài liệu, tôi dành thời gian đi thực tế tại một số làng nghề, gặp gỡ những người lớn tuổi để ghi lại ký ức của họ. Những câu chuyện tưởng chừng rất đời thường, như việc dệt vải trong gia đình hay mang vải ra chợ bán, lại giúp bổ sung nhiều chi tiết sinh động cho nghiên cứu.

* Theo anh, nghề dệt truyền thống ở Bình Định có những nét đáng chú ý nào?

- Trước đây Bình Định có khá nhiều làng dệt thủ công, trong đó nổi tiếng là loại lụa đậu. “Đậu” là cách gọi việc gộp nhiều sợi tơ lại với nhau để dệt. Lụa đậu được chia thành nhiều loại như đậu 2, đậu 3, đậu 4 và đậu 6; trong đó loại đậu 4 thường được dùng phổ biến để may trang phục.

Tuy nhiên từ đầu thế kỷ XX, khi vải công nghiệp phát triển mạnh, nhiều làng dệt thủ công dần thu hẹp hoặc mai một. Vì vậy việc ghi chép lại lịch sử của nghề dệt cũng là cách lưu giữ một phần ký ức văn hóa của địa phương.

Một bản đồ ký ức về nghề tơ lụa Bình Định

Không chỉ khái quát nghề dệt, nghề trồng dâu nuôi tằm, cuốn sách còn phục dựng hệ thống làng nghề dệt truyền thống ở Bình Định, trong đó có các trung tâm quan trọng như Phương Danh - Đập Đá (An Nhơn), Phú Phong (Tây Sơn)…

Đây có thể xem là một bản đồ ký ức về nghề tơ lụa Bình Định, góp phần nối dài mạch nghiên cứu di sản làng nghề trong bối cảnh mới.

Mặt khác, với tư cách người cùng đam mê và dẫn dắt nhóm nghiên cứu di sản Hán Nôm Bình Định, tôi đánh giá cao sự bền bỉ của ThS. Hoàng Bình.

Điều đáng quý ở anh là tinh thần làm việc lặng lẽ, cẩn trọng, gắn nghiên cứu với việc phục dựng ký ức văn hóa địa phương, góp phần đưa tư liệu Hán Nôm đến gần hơn với đời sống hôm nay.

TS. Võ Minh Hải - Phó Trưởng Khoa Khoa học xã hội và Nhân văn (Trường Đại học Quy Nhơn)

Nuôi dưỡng đam mê nghiên cứu từ “kho tư liệu sống”

* Làm việc tại thư viện, đặc biệt có thời gian phụ trách Phòng Thông tin - Tư liệu, điều này đã ảnh hưởng như thế nào đến con đường nghiên cứu của anh?

- Tôi nghĩ môi trường thư viện giúp mình rất nhiều. Khi có thời gian gắn bó với mảng địa chí, tôi có cơ hội tiếp xúc với nhiều tài liệu liên quan đến lịch sử, văn hóa và con người của các địa phương.

Đối với tôi, kho địa chí của thư viện lưu giữ vô vàn “tư liệu sống”. Ở đó có sách, báo, tạp chí, các công trình nghiên cứu và đôi khi cả những tài liệu hiếm.

Quá trình đọc và sắp xếp tài liệu giúp mình hiểu thêm nhiều vấn đề về lịch sử, văn hóa vùng miền, đồng thời gợi ra những hướng nghiên cứu mới.

* Theo anh, kho địa chí của thư viện có thể đóng góp gì cho việc bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa - lịch sử địa phương?

- Kho tư liệu địa chí của Thư viện tỉnh hiện lưu giữ hơn 3.000 đầu sách, tài liệu liên quan đến di sản văn hóa như văn hóa Champa, phong trào Tây Sơn và vương triều Tây Sơn, võ cổ truyền Bình Định, nghệ thuật hát bội, bài chòi… Ngoài ra còn có hơn 7.600 bài trích địa chí đã được số hóa.

Bên cạnh đó là nhiều tư liệu tiếng Pháp được dịch từ các thư viện trong và ngoài nước, phản ánh về ngành nghề, làng nghề, vùng đất Quy Nhơn - Bình Định xưa, cảng Quy Nhơn…

Đây là nguồn tư liệu tổng hợp quan trọng, cung cấp thông tin có hệ thống về địa lý, lịch sử, kinh tế, xã hội và văn hóa của Bình Định từ xưa đến nay.

Trong công trình nghiên cứu về nghề dệt của tôi, cũng có nhiều tài liệu được khai thác từ kho địa chí này.

2-1.jpg
Kho tư liệu địa chí tại Thư viện tỉnh được ThS. Hoàng Bình khai thác phục vụ công trình nghiên cứu của mình. Ảnh: N.N

Tâm huyết tìm hiểu di sản tư liệu Hán Nôm

Ngoài công việc chuyên môn tại Thư viện tỉnh, ThS. Hoàng Bình còn dành nhiều thời gian cho di sản Hán - Nôm.

* Cơ duyên nào đưa anh đến với việc tự học chữ Hán và nghiên cứu Hán - Nôm?

- Ba tôi trước đây là Giám đốc Thư viện tỉnh. Hồi nhỏ, tôi thường theo ba lên thư viện đọc sách. Khi nhìn thấy những cuốn sách, tư liệu Hán - Nôm, tôi rất tò mò vì nghĩ rằng trong đó chắc chắn có nhiều thông tin quý dù lúc đó mình chưa đọc được.

Sau này khi về công tác tại thư viện vào năm 1997, trong quá trình làm việc tôi thường gặp các tài liệu Hán - Nôm và luôn cảm thấy tiếc vì không thể đọc được nội dung. Vì vậy tôi quyết tâm học chữ Hán.

Tôi tìm đến chú Nguyễn Chất - nguyên Phó Giám đốc Nhà hát tuồng Đào Tấn (nay là Nhà hát Nghệ thuật truyền thống tỉnh) để học chữ Hán.

Chú hướng dẫn cách học theo bộ và quy tắc viết chữ, sau đó tôi tiếp tục tự học thêm qua sách vở và trao đổi với những người có kinh nghiệm. Ban đầu khá khó nhưng dần dần tôi có thể đọc được các tư liệu cơ bản.

lang-le-tim-ve-ky-uc-nghe-xua.jpg
ThS. Hoàng Bình (bên trái) cùng TS. Võ Minh Hải (Trường Đại học Quy Nhơn) trong những chuyến điền dã nghiên cứu tư liệu Hán Nôm tìm hiểu lịch sử, văn hóa quê hương. Ảnh: N.N

* Anh đã tham gia dịch những loại tư liệu Hán - Nôm nào?

- Phần lớn là các sắc phong, gia phả, văn khế, liễn đối nhà thờ họ hoặc các bản chép tay còn lưu giữ trong dân gian. Một số người quen khi cần đọc hoặc dịch tài liệu Hán - Nôm cũng nhờ tôi hỗ trợ. Tôi xem đó như một cách đóng góp nhỏ vào việc khai thác giá trị của di sản tư liệu Hán - Nôm.

* Anh có dự định tiếp tục nghiên cứu trong thời gian tới?

- Tôi vẫn muốn tiếp tục tìm hiểu về các nghề truyền thống cũng như những tư liệu lịch sử, văn hóa liên quan đến Bình Định; đặc biệt còn khá nhiều nguồn tư liệu Hán - Nôm chưa được khai thác.

Hiện nay tôi đang tiếp tục thực hiện một công trình biên khảo về đô thị Quy Nhơn giai đoạn 1874-1945. Công trình này phát triển từ luận văn thạc sĩ của tôi năm 2020 khi nghiên cứu về lịch sử làng Chánh Thành - Đô thị Quy Nhơn.

* Xin cảm ơn anh!

Có thể bạn quan tâm

Chất thuần khiết nâng tầm thổ cẩm

Chất thuần khiết nâng tầm thổ cẩm

(GLO)- Với việc hợp chuẩn OCOP, nhiều sản phẩm thổ cẩm Bahnar, Jrai ở Gia Lai bắt đầu định vị được thương hiệu. Quá trình này có công rất lớn của nhiều phụ nữ, nghệ nhân đã dồn tâm huyết từng bước đưa thổ cẩm truyền thống ra thị trường.

Tiến sĩ Lê Quang Lâm cùng câu chuyện tù và Jrai

Tiến sĩ Lê Quang Lâm cùng câu chuyện tù và Jrai

(GLO)- Hiểu về văn hóa Tây Nguyên bắt đầu từ những hiện vật dân tộc học, đó cũng là một trong những cách tiếp cận của TS. Lê Quang Lâm (phường Diên Hồng, tỉnh Gia Lai) khi nghiên cứu về văn hóa của người Jrai. Trong hàng nghìn hiện vật mà ông dày công sưu tầm, có bộ sưu tập tù và Jrai độc đáo.

Suy nghĩ từ những lò gốm cổ

Suy nghĩ từ những lò gốm cổ dọc sông Côn

(GLO)- Dọc theo dòng sông Côn huyền thoại, tuyến giao thương quan trọng từng nối vùng cao nguyên với cửa biển Thị Nại, nếu không để ý kỹ, người ta rất dễ đi ngang qua những gò đất tưởng như bình thường. Nhưng dưới lớp đất trầm mặc ấy là dấu tích của một thời Champa rực rỡ.

Đi con đường ít người đi…

Đi con đường ít người đi…

(GLO)- Giữa nhịp sống hiện đại gấp gáp, có những người chọn lặng lẽ đi ngược dòng thời gian, lần theo dấu vết chữ nghĩa xưa để phục dựng hồn cốt văn hóa một vùng đất. Tiến sĩ Võ Minh Hải-Phó trưởng Khoa Khoa học Xã hội và Nhân văn (Trường ĐH Quy Nhơn), nhà nghiên cứu Hán Nôm - là một người như thế.

Gìn giữ và phát huy giá trị di sản Hán Nôm

Cần phối hợp liên ngành để gìn giữ và phát huy giá trị di sản Hán Nôm

(GLO)- Từ những sắc phong, gia phả, văn tế, địa bạ đến hoành phi, câu đối…, di sản Hán Nôm đang lưu giữ trên vùng đất Gia Lai là lớp trầm tích đặc biệt của lịch sử và văn hóa. Việc nhận diện giá trị, gìn giữ kho tư liệu này sẽ gợi mở con đường bảo tồn, phát huy giá trị di sản trong đời sống.

null