Nguồn nhân lực phải thích ứng kỷ nguyên số

Theo dõi Báo Gia Lai trên Google News
(GLO)- Không ai khác mà chính con người đã tạo nên kỷ nguyên số, tạo nên trí thông minh nhân tạo (IA), tự động hóa, robot, dữ liệu lớn (big data)... Vì thế, lực lượng lao động không còn lựa chọn nào khác là phải thích ứng với kỷ nguyên số, phải có trình độ, kỹ năng lao động để làm chủ máy móc, công nghệ cao.
Trước cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, thế giới từng trải qua 3 cuộc cách mạng công nghiệp. Và người lao động, trong đó có người lao động Việt Nam, đều đã thích ứng để có thể làm việc trong sự phát triển của các cuộc cách mạng công nghiệp ấy. Dĩ nhiên, cách mạng công nghiệp 4.0 là một đỉnh cao mới trong tiến trình phát triển của nhân loại. Nó nhằm phục vụ con người tốt hơn, chứ không phải loại bỏ con người. Nhưng với điều kiện, con người phải làm chủ được nó. Vì vậy, việc đào tạo nguồn nhân lực trong kỷ nguyên số là việc không chỉ phải làm ngay, mà phải làm một cách thường xuyên, kiên trì, khoa học, phù hợp với trình độ nhận thức của người lao động, đi từ dễ đến khó, hiểu lý thuyết nhưng quan trọng hơn là biết thực hành.
Trong nền công nghiệp 4.0, máy móc có thể đưa ra những quyết định đơn giản. Nhưng chỉ con người mới có thể thực hiện những quyết định khó khăn và phức tạp.
Trong nền công nghiệp 4.0, máy móc có thể đưa ra những quyết định đơn giản. Nhưng chỉ con người mới có thể thực hiện những quyết định khó khăn và phức tạp.  (ảnh internet)
Những cuộc hội thảo về đề tài này dành cho các nhà lãnh đạo, các CEO là cần thiết, nhưng những giáo trình mang tính cụ thể, thực tế dành cho đông đảo người lao động mới là cái bắt buộc phải có để tạo nguồn nhân lực đáp ứng với những công nghệ mới. Tất nhiên, tự động hóa không thể thay thế con người trên phương diện ra quyết định và linh hoạt trong nhận thức. Nhưng con người phải làm chủ tự động hóa, phải nắm được quy trình vận hành của máy móc tự động để điều khiển nó.
Trong nền công nghiệp 4.0, máy móc có thể đưa ra những quyết định đơn giản. Nhưng chỉ con người mới có thể thực hiện những quyết định khó khăn và phức tạp. Nói tóm lại, người công nhân trong “công nghiệp 4.0” phải khác người công nhân ở “công nghiệp 3.0”, khác ở tư duy và kỹ năng, khác ở môi trường làm việc và khả năng làm chủ máy móc, càng gọn nhẹ thì càng phức tạp.
Người lao động Việt Nam hoàn toàn có thể thích ứng với lao động tự động hóa, miễn là được đào tạo cho đến nơi đến chốn. Sự kiên trì và linh hoạt là những đức tính quý báu mà người lao động Việt Nam sở hữu. Nó khiến họ có thể sáng tạo một khi được tiếp xúc và nắm được những quy luật vận hành của máy móc.
Vì sao nhiều nông dân Việt Nam có thể tự mình sáng chế những máy móc trong điều kiện hết sức eo hẹp về kiến thức cũng như công nghệ? Chính khả năng tự nghiên cứu, mày mò, biết ngạc nhiên và tự tìm câu trả lời đã giúp họ sáng tạo nên những sản phẩm nhiều khi quá sức lực và trình độ của họ. Biết phát huy mặt mạnh này của người lao động Việt Nam, chúng ta hoàn toàn có thể đưa công nghiệp 4.0 đến với họ mà không sợ nó xa lạ và quá tầm.
Đúng là những gì người lao động trên thế giới thích ứng được, làm chủ được thì người lao động Việt Nam cũng có thể, miễn là họ được đào tạo một cách thực tế, linh hoạt. Làm chủ máy móc thì phải không “máy móc”, phải năng động, dám nghĩ và dám làm. Tự động hóa hay robot có thể thay thế con người ở một số lĩnh vực nhưng không bao giờ thay thế được hoàn toàn con người.
Số lượng lao động có thể giảm đi trong kỷ nguyên số ở một số ngành nghề, nhưng lại phát triển và thu hút ở nhiều ngành nghề khác. Và có những ngành nghề mà máy móc hoàn toàn không thể thay thế được con người. Chẳng có gì phải sợ hãi cái “bóng ma” của cách mạng công nghiệp 4.0. Có điều, phải chủ động đón nhận và tích cực học hỏi để làm chủ nó.
Cứ nghĩ xem, hơn 10 năm trước đã mấy người Việt Nam biết “điện thoại thông minh” là gì. Còn bây giờ, hàng mấy chục triệu người Việt Nam trong nước đã quen dùng điện thoại thông minh như một vật dụng không thể thiếu trong cuộc sống của mình. Công nghệ phát triển thì con người cũng phát triển, vấn đề là phải linh hoạt để biết mình có thể làm được những việc gì, chỗ đứng thích hợp của mình ở đâu trong kỷ nguyên số này.
Có thể nói ngay, kỷ nguyên số ấy vẫn dung nạp những người bán rong. Nhưng phải là “những người bán rong trong kỷ nguyên số”. Chúng ta đã sống một thời chưa biết internet là gì. Nhưng bây giờ, chúng ta không chỉ biết internet mà còn thành thạo nó. Vậy thì có gì đáng ngại!      
Thanh Thảo

Có thể bạn quan tâm

Phát triển sản phẩm OCOP từ lợi thế địa phương

Phát triển sản phẩm OCOP từ lợi thế địa phương

(GLO)- Phát huy lợi thế từ các sản phẩm nông nghiệp đặc trưng, nhiều địa phương, nhất là vùng đồng bào dân tộc thiểu số trong tỉnh, đang đẩy mạnh phát triển sản phẩm OCOP, góp phần nâng cao giá trị nông sản, tạo sinh kế bền vững và thúc đẩy phát triển kinh tế nông thôn.

Khai mạc Hội chợ nông sản, sản phẩm OCOP, sản phẩm đặc trưng tiêu biểu xã Kbang năm 2026

Khai mạc Hội chợ nông sản, sản phẩm OCOP, sản phẩm đặc trưng tiêu biểu xã Kbang năm 2026

(GLO)- Trong khuôn khổ Ngày Hội du lịch xã Kbang lần thứ I năm 2026, sáng 7-8, tại Công viên Văn hóa xã Kbang, UBND xã phối hợp với Trung tâm Khuyến công và Xúc tiến thương mại (Sở Công Thương tỉnh Gia Lai) khai mạc Hội chợ nông sản, sản phẩm OCOP, sản phẩm đặc trưng tiêu biểu xã Kbang năm 2026.

Hội chợ nông sản, sản phẩm OCOP và sản phẩm đặc trưng, tiêu biểu xã Kbang năm 2026 sẽ diễn ra từ ngày 7 đến 9-8.

Hội chợ nông sản Kbang có quy mô 100-120 gian hàng

(GLO)- Ngày 20-7, Chủ tịch UBND xã Kbang (tỉnh Gia Lai) Nguyễn Mạnh Cường cho biết: Trong khuôn khổ Ngày hội Du lịch xã Kbang lần thứ I - 2026 (diễn ra từ ngày 7-9/8), địa phương sẽ tổ chức Hội chợ nông sản, sản phẩm OCOP và sản phẩm đặc trưng, tiêu biểu.

Điểm trưng bày, nhận diện hàng Việt Nam: Điểm mua sắm tiện ích của người tiêu dùng

Điểm trưng bày, nhận diện hàng Việt Nam: Điểm mua sắm tiện ích của người tiêu dùng

(GLO)- Theo Sở Công Thương tỉnh Đắk Lắk, triển khai mô hình Điểm trưng bày, nhận diện hàng Việt Nam với tên gọi "Tự hào hàng Việt Nam - Tinh hoa hàng Việt Nam”, năm 2026, đơn vị đã hỗ trợ, hình thành Điểm trưng bày, nhận diện hàng Việt Nam tại Siêu thị Co.opmart Tuy Hòa (phường Tuy Hòa).

Liên kết nâng giá trị mắc ca Gia Lai

Liên kết nâng giá trị mắc ca Gia Lai

(GLO)- Cây mắc ca đang dần khẳng định vị thế trong cơ cấu cây trồng tại nhiều địa phương của tỉnh Gia Lai. Không chỉ giúp người dân đa dạng hóa sinh kế, việc hình thành các tổ nhóm sản xuất, hợp tác xã và đẩy mạnh chế biến sâu đang mở ra hướng phát triển bền vững, nâng cao giá trị hạt mắc ca.

Bộ tiêu chí đánh giá, phân hạng sản phẩm OCOP mới: Cơ hội để nâng cao chất lượng, mở rộng thị trường

Cơ hội để nâng cao chất lượng, mở rộng thị trường

(GLO)- Bộ tiêu chí đánh giá, phân hạng sản phẩm thuộc Chương trình mỗi xã một sản phẩm (OCOP) vừa được Thủ tướng Chính phủ ban hành đặt ra nhiều yêu cầu cao hơn về thương hiệu, năng lực thị trường và tính bền vững của sản phẩm.

Kể chuyện buôn làng Jrai bằng cà phê

Kể chuyện buôn làng Jrai bằng cà phê

(GLO)- Rời bục giảng để khởi nghiệp với cà phê hữu cơ, vợ chồng anh Siu Sắt (SN 1990) và chị Rơ Châm Awưnh (SN 1994) ở làng Mrông Yố 1, xã Ia Phí (tỉnh Gia Lai) đang kiên trì theo đuổi khát vọng nâng tầm nông sản địa phương, gắn với gìn giữ văn hóa Jrai và phát triển du lịch cộng đồng.

Gia Lai: Mỗi phường đầu tư ít nhất 1 cửa hàng lưu động giới thiệu, quảng bá và tiêu thụ sản phẩm OCOP

Gia Lai: Mỗi phường đầu tư ít nhất 1 cửa hàng lưu động tiêu thụ sản phẩm OCOP

(GLO)- Theo Kế hoạch xây dựng hệ thống cửa hàng, điểm trưng bày, giới thiệu và quảng bá sản phẩm OCOP, sản phẩm đặc sản, đặc trưng trên địa bàn tỉnh Gia Lai, mỗi phường sẽ đầu tư ít nhất 1 cửa hàng lưu động với kích thước 3x3x2,5 mét, có tính thẩm mỹ, phù hợp với không gian xung quanh.

Chủ động hỗ trợ hộ kinh doanh chuyển đổi thành doanh nghiệp

Chủ động hỗ trợ hộ kinh doanh chuyển đổi thành doanh nghiệp

(GLO)- Từ việc nhận diện và đánh giá đúng thực trạng, nhiều xã, phường trên địa bàn tỉnh Gia Lai đã chủ động triển khai Kế hoạch số 21/KH-UBND ngày 20-1-2026 của UBND tỉnh về việc hỗ trợ hộ kinh doanh chuyển đổi thành doanh nghiệp bằng các biện pháp cụ thể.

null