Nghề xưa vẫn chảy bên dòng sông Côn

Theo dõi Báo Gia Lai trên Google News

(GLO)- Bên dòng sông Côn, đoạn chảy qua thôn Kiên Mỹ (xã Tây Sơn, tỉnh Gia Lai) từ lâu đã hình thành những xóm nghề gắn với đời sống người dân như làm đậu khuôn, giá đỗ, bún, bánh tráng, các loại bánh truyền thống, trồng rau... 

Những nghề ấy đã đi qua nhiều thế hệ, từng có lúc hưng thịnh, có lúc trầm lắng, nhưng lúc nào nghề cũng nuôi được người, để người gìn giữ, trao truyền.

Từ những căn bếp nhỏ ven sông, những sản phẩm dân dã vẫn đều đặn ra đời, mang theo hương vị của đất, của nước và bàn tay người thợ. Và mấy năm gần đây, được khơi thêm một số kênh tiêu thụ mới, tiếp thêm sức sống, nghề được chảy cùng đời sống, như dòng sông Côn bao đời.

Sản phẩm thủ công tự nhiên, lành và ngon

2, 3 giờ sáng, khi phố phường còn chìm trong giấc ngủ, những căn bếp ở Kiên Mỹ đã sáng đèn. Khi tôi đến, người ngâm đậu, người xay bột, người tất tả với những lu giá; những bàn tay thoăn thoắt gói bánh, chuẩn bị hàng cho buổi chợ sớm. Tiếng máy xay, tiếng nước chảy hòa vào nhịp làm nghề hối hả trong những con ngõ ven sông Côn.

Ngoài 60 tuổi, bà Nguyễn Thị Đào thuộc lòng từng công đoạn làm đậu khuôn, có thể bắt tay vào việc tự nhiên như hơi thở. Những mẻ đậu trở thành kế sinh nhai của cả gia đình bà.

4.jpg
Để có thể làm được nhiều đậu hơn, nuôi 4 người con ăn học, từ 12 giờ đêm, bà Nguyễn Thị Đào đã phải xay đậu để bắt đầu mẻ đậu đầu tiên. Ảnh: Đ.N

Hơn 30 năm qua, vợ chồng bà phải đỏ lửa từ 12 giờ đêm đến tảng sáng để kịp bỏ mối và đi chợ sớm. Cha mẹ, ông bà bày sao bà giữ nguyên, làm đúng như vậy.

Đậu ngâm, xay, nấu, lọc, pha nước muối theo tỷ lệ vừa phải rồi cho vào khuôn ép. Người làm lâu năm chỉ cần nhìn màu, độ mềm và nghe mùi thơm là biết một mẻ đã tới hay chưa.

Bà Đào kể như khoe: “Vợ chồng tôi nuôi 4 cô con gái lớn khôn bằng những tấm đậu. Nay đã có 2 đứa thành cô giáo. Vợ chồng tôi có 1 niềm vui giản dị là có vợ chồng đứa con gái đầu theo nghề. Máy móc đã giúp công việc bớt nhọc nhằn, nhưng cách làm, cách giữ chất lượng vẫn được truyền lại từ thế hệ trước”.

2-8274.jpg
Chị Nguyễn Thị Tuyết Phi nâng niu những cọng giá ngọt lành đã được rửa sạch, chờ buổi chợ. Ảnh: Đ.N

Ở một căn nhà khác, câu chuyện ấy lại được nối tiếp qua các thế hệ. Chị Nguyễn Thị Tuyết Phi là người làm giá lâu năm ở Kiên Mỹ.

Gia đình chị đã có nhiều năm gắn bó với nghề làm giá, làm đậu. Ba mẹ chồng của chị là ông Nguyễn Hữu Hoàng và bà Nguyễn Thị Sương - năm nay đã ngoài 70 tuổi nhưng vẫn cùng vợ chồng chị sớm hôm với những mẻ giá, khuôn đậu.

Chị kể, ngày trước làm giá phải ra tận sông Côn, lặn xuống lấy cát. Phải chọn đúng loại cát ở nơi nước chảy mới được. Bây giờ, cát đã được vận chuyển đến tận nơi, người làm nghề không còn phải lặn mình dưới sông để tìm từng mẻ cát như trước, nhưng công thức làm giá vẫn được giữ nguyên. Nhiều thế hệ cùng gìn giữ cái cốt lõi của nghề.

Với nghề thủ công gia truyền, kinh nghiệm chỉ được truyền lại cho thế hệ sau bằng cách cầm tay chỉ việc, không sách vở, tài liệu. Và giá trị lớn nhất của sản phẩm là không chỉ ngon mà còn phải lành.

Tôi nhấm nhá cọng giá, chợt nhận ra một điều không mới nhưng thấm thía, cái đích đến những người theo nghề thủ công ở đâu cũng vậy, sản phẩm của họ phải tự nhiên, phải lành và nếu nghiêm cẩn như thế thì chắc chắn sẽ ngon.

Khơi kênh tiêu thụ mới, tiếp sức cho nghề

Không kể những lúc vì công việc, khi ranh rảnh tôi vẫn hay đến xóm bánh ở Kiên Mỹ chơi. Tôi thích không khí lao động, những làn hương thơm tinh tế, giản dị bảng lảng từ những gian bếp, góc nhà đang làm các loại bánh mứt, bánh ít, bánh tét, bánh chưng…

Những thứ bánh dân dã ấy quen thuộc đến mức ta thường không để ý khi đang ở đó, nhưng thường lại là thứ khiến khi xa quê ta sẽ thương nhớ khôn cùng.

Từ xứ Quảng tôi về làm dâu xứ này, ban đầu chỉ là thinh thích. Nhưng mỗi lần về Tết, nghỉ hè đã thấy lòng nhung nhớ và hương vị tấm bánh mang về làm quà cũng giúp dịu đi nỗi nhớ kia. Sau mỗi lần như thế tôi lại thêm yêu những góc làng nghề dung dị ven sông Côn.

Hơn 40 năm gắn bó với nghề, bà Nguyễn Thị Sơn đã trở thành địa chỉ quen của những người tìm về với vị bánh quê. Ở chợ, đôi tay bà thoăn thoắt gói bánh chưng, bánh tét, bánh ít; gói đến đâu, chiếc bánh đều tăm tắp đến đó, xem bà gói bánh không thôi đã thấy vui mắt.

Bên cạnh việc bán trực tiếp, nhiều người làm bánh, bán bánh thủ công truyền thống ở chợ Phú Phong đã bắt đầu giới thiệu sản phẩm trên mạng xã hội và nhận được những đơn hàng từ ngoài tỉnh. Dù vậy, thị trường của những chiếc bánh quê vẫn phát triển chủ yếu từ sự tin tưởng và truyền miệng.

3.jpg
Bà Nguyễn Thị Sơn gói bánh tại chợ Phú Phong. Ảnh: Đ.N

Không ít khách hàng ở xa biết đến sản phẩm thông qua người thân, bạn bè hoặc những người đồng hương. Sau một lần thưởng thức, quen với hương vị, họ trở thành khách hàng thường xuyên và đặt hàng trực tiếp với người làm bánh.

Từ những đơn hàng như thế, những chiếc bánh Kiên Mỹ bắt đầu theo xe khách, chuyến hàng trong ngày, thậm chí bằng đường hàng không để đến với người con xa quê và thực khách ở nhiều nơi.

Bà Nguyễn Thị Sơn cho hay: “Tây Sơn nổi tiếng với bánh mứt, bánh tráng, bánh ít, riêng nghề làm bánh không thôi đã nuôi sống biết bao nhiêu gia đình, chưa kể đến số bà con buôn bán, kinh doanh.

Ví dụ như bánh mứt, du khách đến Tây Sơn thấy bánh là lạ, thử ăn rồi thích, sau đó theo địa chỉ đặt mua lại… Vậy mà rồi nhiều người có thêm bạn hàng. Tôi may mắn, hạnh phúc có đứa con gái nối nghề, nay đã mở được quầy bánh ở phường Pleiku”.

Nghề vẫn chảy cùng thời gian

Điều đáng quý ở những làng nghề, xóm nghề ven sông Côn không phải là còn nguyên vẹn y khuôn như hàng trăm năm trước. Nghề đã thay đổi nhiều.

Máy móc thay cho sức người, nguyên liệu được đưa đến tận nhà, mạng xã hội giúp nhà sản xuất - bên bán - bên mua tiếp cận với nhau dễ dàng hơn, sản phẩm có nhiều cơ hội đi xa hơn, thậm chí xa đến mức trước đây không hề nghĩ tới. Nhưng giữa những bộn bề đổi thay ấy, người ta vẫn giữ lại hồn cốt của nghề, tức là vẫn tự nhiên, vẫn lành và ngon.

Trò chuyện với tôi, ông Nguyễn Thanh Diệu - Trưởng thôn Kiên Mỹ - cho biết: Hiện thôn còn khoảng 100 hộ làm nghề. Bà con sản xuất quanh năm, chỉ nghỉ đôi ba ngày vào dịp Tết. Nghề chưa giúp bà con giàu có, nhưng tạo ra nhiều việc làm, có thu nhập đều đặn, giữ được sinh kế và đủ sống ngay tại quê nhà.

Đi dọc những con đường ven sông Côn, từ tinh mơ đã thấy ngay nhiều căn nhà sáng đèn, những lu giá xếp nối nhau, những mẻ bột được chuẩn bị cho ngày mới… Xê xế về phía xa là những luống rau xanh mướt Thuận Nghĩa.

Mỗi nghề một cách làm, nhưng có một điểm chung dường như đã gắn họ với vùng đất này từ bao đời - nguồn nước. Người làm đậu, làm giá đều bảo nước phải trong, sạch; chỉ cần nhiễm chút phèn, mặn, chất lượng sản phẩm sẽ khác ngay.

nghe-xua-van-chay-ben-dong-song-con.jpg
Từ nguồn nước và phù sa sông Côn, những luống rau Thuận Nghĩa xanh lên, nuôi sống bao thế hệ người ở ven sông. Ảnh: Đ.N

Từ dòng nước sông Côn, hạt đậu thành miếng đậu khuôn, thành cọng giá; hạt gạo thành sợi bún, chiếc bánh; đất được tưới nước để những luống rau Thuận Nghĩa xanh lên. Nước theo một cách hiểu khoáng đạt đã nuôi cả nếp sống của người dân nơi đây.

Và có lẽ, đó mới là điều khiến những sản vật nhỏ bé của Kiên Mỹ mang theo nhiều hơn giá trị hàng hóa. 1 miếng đậu, 1 mẻ giá, sợi bún hay chiếc bánh quê có thể đi từ căn bếp nhỏ ra chợ, theo khách đi xa rồi trở về trong ký ức của những người từng sống ở nơi này.

Khi ấy, nghề không chỉ nuôi sống 1 gia đình, mà còn giữ lại một phần ký ức của làng. Nhìn lại hành trình của những người giữ nghề hôm nay, có thể thấy một dòng chảy lặng lẽ đang tiếp nối sống động.

* * *

Chiều xuống. Sông Côn lại lặng lẽ chảy qua Phú Phong. Dòng nước đi về phía trước, còn những nghề bên sông cũng vậy. Nghề không đứng yên, cũng không biến mất; nghề thay đổi để đi cùng thời gian, nhưng vẫn giữ lại cái hồn đã được trao truyền qua nhiều thế hệ.

Không ồn ào, không hào nhoáng, chỉ là người với nghề nương vào nhau mà sống; như sông nương vào đất, như đất giữ lấy người, vun bồi cho ký ức của làng.

Có thể bạn quan tâm

Mang con dấu đến bản

Mang con dấu đến bản

Hai đứa con đã 15 và 13 tuổi, nhưng lần đầu tiên, vợ chồng anh Moong Văn Phong mới đi làm khai sinh cho con khi Trung tâm Phục vụ hành chính công xã Nhôn Mai (Nghệ An) mang con dấu đến tận bản để làm thủ tục cho dân.

Những dáng lính vùng biên

Những dáng lính vùng biên

(GLO)- Tôi gặp những người lính trên những chuyến tàu tuần tra ngoài khơi xa, giữa những hải trình dọc dài duyên hải đồng hành, làm chỗ dựa bảo vệ ngư dân và giữ gìn an ninh trật tự trên biển quê hương; gặp họ giữa những vùng biên giới Campuchia heo hút đầy nắng gió.

Ruổi rong đời chăn vịt

Ruổi rong đời chăn vịt

(GLO)- Sau mỗi mùa gặt, những cánh đồng lúa ở các xã An Lương, An Hòa, An Vinh, Tuy Phước… lại rộn ràng bởi đàn vịt hàng nghìn con tìm về kiếm ăn. Gắn với đàn vịt, những người chăn vịt miệt mài rong ruổi qua nhiều cánh đồng, lấy mùa gặt làm nhịp mưu sinh.

Trầm tích sông Ba

Trầm tích sông Ba

(GLO)- Sông Ba đoạn qua xã Ia Dreh (tỉnh Gia Lai) mùa khô, vài con thuyền đánh cá nằm gối đầu nghỉ ngơi trên những doi cát. Chiều xuống, từ những bến sông, người dân vẫn ra tắm mát dù nước cạn tới mức có thể lội ra giữa dòng.

Những dấu vết bí ẩn ven sông Ba

Những dấu vết bí ẩn ven sông Ba

(GLO)- Men theo bờ sông Ba đoạn chảy qua buôn Tơnia (xã Ia Rsai, tỉnh Gia Lai), khi nắng cuối ngày hắt những tia vàng lấp lánh trên mặt nước, chúng tôi bắt gặp những vật thể lạ nhô lên khỏi lớp đất sét. 

Miếu thờ liệt sĩ bên suối Hội Phú

Miếu thờ liệt sĩ bên suối Hội Phú

(GLO)- Không biết tên tuổi, quê quán những người lính hy sinh trong trận đánh Tết Mậu Thân 1968 tại Pleiku, người dân bên suối Hội Phú (phường Hội Phú, tỉnh Gia Lai) vẫn âm thầm thắp những nén nhang rồi lập miếu thờ ngay nơi các anh từng nằm xuống. 

Vị Xuyên - Bạn tôi vẫn còn đó

Vị Xuyên - Bạn tôi vẫn còn đó

(GLO)- Vùng biên giới Vị Xuyên, tỉnh Tuyên Quang (Hà Giang cũ) hôm nay đã đổi thay, nhưng những người đồng đội của tôi vẫn còn đó, nằm ngay ngắn trong đội hình “hàng thẳng hàng, lối thẳng lối, quân dung tươi tỉnh” tại Nghĩa trang Liệt sĩ Quốc gia Vị Xuyên.

Chiếc a chói giữa rừng Trường Sơn

Chiếc a chói giữa rừng Trường Sơn

Dưới mái hiên nhà sàn ở xã La Lay (Quảng Trị), tiếng dao chẻ tre vang lên đều đặn giữa buổi sớm. Nghệ nhân Hồ Văn Thành ngồi bên bó mây vừa lấy từ rừng về. Ông tỉ mẩn đường dao chuốt từng sợi nan tre. Ở miền tây Quảng Trị, hình ảnh ấy không hiếm gặp...

Nghị lực phi thường của người thương binh hạng nặng Lê Thái Hà

Nghị lực phi thường của người thương binh hạng nặng Lê Thái Hà

(GLO)- Khi bị thương nặng tại chiến trường Campuchia, ông Lê Thái Hà (trú phường Bình Định, tỉnh Gia Lai) không nghĩ mình sẽ sống sót. Phục viên với sức khỏe suy giảm đến 91%, ông cũng từng không dám mơ đến những điều xa xôi về tương lai. Vậy mà người cựu chiến binh ấy đã can trường vượt qua tất cả.

4 ngày làm vợ, 54 năm đợi chờ

4 ngày làm vợ, 54 năm đợi chờ

Sau 54 năm kể từ ngày liệt sĩ Nguyễn Văn Đinh ngã xuống trên chiến trường Quảng Trị, bà Nguyễn Thị Ngọ (Nghệ An) mới được đứng trên mảnh đất ông hy sinh. Hành trình ấy khép lại nỗi khắc khoải của một người vợ, nhưng mở ra câu chuyện lay động về tình yêu, sự thủy chung không phai theo năm tháng.

'Bí kíp' nón ngựa nghĩa quân Tây Sơn

'Bí kíp' nón ngựa nghĩa quân Tây Sơn

Nghệ nhân ưu tú Đỗ Văn Lan (80 tuổi, ông Ba Lan) đang giữ nguyên vẹn “bí kíp” tổ truyền làm “nón ngựa Phú Gia” mà ngày xưa nghĩa quân Tây Sơn đội nắng mưa hành quân thần tốc. Những chiếc nón không chỉ như một tác phẩm nghệ thuật mà còn rất bền.

null