Ở tuổi 75, bà vẫn giữ ánh mắt kiên định và giọng nói dứt khoát của người từng đi qua mưa bom bão đạn.
Cuộc gặp gỡ với bà không chỉ gợi lại những ký ức hào hùng mà còn là dịp để lắng nghe những suy ngẫm về giá trị của hòa bình, sự tri ân và trách nhiệm tiếp nối truyền thống cách mạng của thế hệ hôm nay.
Biến đau thương thành ý chí chiến đấu
Nhìn người phụ nữ nhỏ nhắn, thật khó hình dung bà từng trực tiếp chỉ huy nhiều trận đánh giữa chiến trường Tây Nguyên ác liệt. Nghe chúng tôi nhắc đến chuyện xưa, bà Kpă Ó lặng đi vài giây. Những ký ức tưởng đã lùi xa vẫn hiện lên rõ mồn một, bắt đầu từ biến cố đau thương của làng Bạc năm 1962.
* Mỗi lần nhớ về những năm tháng chiến tranh, ký ức nào luôn trở lại đầu tiên với bà? Điều gì đã đưa cô gái Jrai mới 16 tuổi trở thành du kích?
- Mỗi lần nhắc lại quãng thời gian ấy, lòng tôi vẫn thắt lại! Năm 1962, quân Mỹ - ngụy điên cuồng càn quét, nổ súng vào dân làng vô tội, gây nên vụ thảm sát khiến 162 người thương vong.
Tôi may mắn sống sót vì được mẹ và bà ngoại dùng thân mình che chắn. Nhưng ngay trước mắt tôi, bà ngoại và em gái nhỏ đang được mẹ địu trước ngực bị giết hại. Mẹ tôi bị thương rất nặng rồi cũng qua đời không lâu sau đó.
Nỗi đau mất người thân, chứng kiến làng quê tan hoang trở thành ký ức không bao giờ nguôi. Chính nỗi đau ấy đã thôi thúc tôi đứng lên chiến đấu. Tròn 16 tuổi, tôi tình nguyện xin gia nhập đội du kích xã E5 (nay là xã Chư Prông), quyết tâm cầm súng đánh đuổi kẻ thù, góp sức bảo vệ dân làng.
* Từ một nữ du kích nhỏ tuổi, bà nhanh chóng được giao đảm nhiệm Tiểu đội trưởng rồi Trung đội trưởng du kích xã. Điều gì giúp bà vượt qua những nghi ngại ban đầu để khẳng định mình?
- Khi mới vào đội du kích, thấy tôi gầy gò, nhỏ bé, một số đồng đội lo ngại, sợ tôi không đủ sức gùi súng đạn, không chịu nổi những ngày băng rừng, lội suối. Nhưng tôi nghĩ chỉ có hành động mới chứng minh được quyết tâm của mình.
Được các anh, chị chỉ bảo, tôi miệt mài học mọi kỹ năng chiến đấu, từ vót chông, gài mìn, sử dụng súng, lựu đạn đến quan sát, nắm quy luật hoạt động của địch.
Tôi cũng tận dụng lợi thế vóc dáng nhỏ để luồn rừng trinh sát, vận chuyển vũ khí, đạn dược. Từ gùi đạn, chuyển lương thực, dẫn đường cho bộ đội đến trực tiếp gài mìn, phục kích, tôi đều xung phong nhận nhiệm vụ và quyết tâm hoàn thành. Có lẽ chính sự kiên trì ấy đã giúp tôi dần nhận được sự tin tưởng của đồng đội và cấp trên.
* Luôn ở ranh giới mong manh giữa sự sống và cái chết, điều gì giúp bà và đồng đội giữ vững ý chí để tiếp tục chiến đấu?
- Chứng kiến quê hương bị tàn phá, người thân lần lượt bị sát hại, chúng tôi không còn nghĩ nhiều đến sự sống hay cái chết nữa. Anh em thường động viên nhau: “Sống thì ăn cơm, chết thì ăn đất”. Chừng nào còn sống thì còn cầm súng chiến đấu bảo vệ quê hương, nếu có ngã xuống cũng không hối tiếc.
Có lẽ nhờ tinh thần sẵn sàng xả thân và nhiều lần may mắn thoát chết (cười), hai năm sau tôi được giao làm Tiểu đội trưởng rồi Trung đội trưởng, trực tiếp chỉ huy anh em trong nhiều trận đánh.
Tôi mong đồng đội được trở về với quê hương...
“Mỗi độ tháng 7 về, tôi lại nhớ các đồng đội đã hy sinh. Nhiều người đến nay vẫn chưa tìm được hài cốt để trở về với gia đình; có người đã được an táng tại các nghĩa trang liệt sĩ nhưng vẫn chưa xác định được danh tính. Tôi mong công tác tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ sẽ tiếp tục được quan tâm để thêm nhiều gia đình vơi bớt nỗi mong chờ, để những người đã hy sinh được trở về với quê hương”.
Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân KPĂ Ó
Trao truyền ngọn lửa cách mạng
Chiến tranh kết thúc, bà Kpă Ó rời quân ngũ trở về buôn làng. Sau những năm tháng cầm súng, người nữ du kích năm nào lại bắt đầu một hành trình khác - cùng bà con dựng lại cuộc sống trên quê hương và gìn giữ ký ức về những người đã ngã xuống.
* Ở tuổi 24, bà được Đảng và Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân. Với bà, danh hiệu ấy có ý nghĩa như thế nào?
- Sau thời gian trực tiếp chiến đấu trong lực lượng du kích địa phương, năm 1973 tôi nhập ngũ vào Đại đội 17, Tiểu đoàn 2, Quân khu 5. Một năm sau, tôi được cử ra miền Bắc học văn hóa.
Đó là quãng thời gian rất ý nghĩa khi một người con của núi rừng Tây Nguyên được sống trong hòa bình và nhận được sự yêu thương, đùm bọc của đồng bào miền Bắc.
Dù vậy, trong lòng tôi luôn nhớ buôn làng. Ngay sau ngày đất nước thống nhất, tôi trở về quê cùng bà con khai hoang, phục hóa, dựng lại nhà cửa, khôi phục cuộc sống từ những đổ nát do chiến tranh để lại.
Ngày 6-11-1978, tôi vinh dự được Đảng và Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân. Với tôi, đó không phải là phần thưởng dành riêng cho bản thân, mà là sự ghi nhận những hy sinh, mất mát của biết bao đồng đội, của bà con làng Bạc đã ngã xuống, cũng như tinh thần bất khuất của đồng bào Jrai trong những năm tháng kháng chiến.
* Trải qua chiến tranh và chứng kiến sự đổi thay của quê hương, bà muốn gửi gắm điều gì đến thế hệ trẻ hôm nay?
- Hòa bình không tự nhiên mà có. Đó là thành quả được đánh đổi bằng máu xương, bằng sự hy sinh của biết bao anh hùng, liệt sĩ và thanh xuân của cả một thế hệ.
Thế hệ hôm nay được sống trong hòa bình, được học tập, trưởng thành và có nhiều cơ hội để phát triển, đó là hạnh phúc rất lớn. Vì vậy, hãy biết trân trọng những gì mình đang có; sống có trách nhiệm, nỗ lực học tập, rèn luyện và cống hiến cho quê hương, đất nước.
Điều khiến tôi vui nhất là truyền thống ấy vẫn được các con, các cháu trong gia đình tiếp nối. Tôi có 5 người con, 9 người cháu và 2 chắt. Con gái thứ hai hiện là Chủ tịch Hội LHPN xã Chư Prông, cháu gái là Bí thư Chi bộ làng Bạc 1, còn 1 cháu ngoại vừa hoàn thành nghĩa vụ quân sự.
* Những năm qua, Đảng, Nhà nước và địa phương luôn quan tâm chăm lo người có công với cách mạng, bà cảm nhận như thế nào về sự tri ân ấy?
- Xúc động lắm! Những năm qua, các chính sách như xây dựng nhà tình nghĩa, hỗ trợ sinh kế, chăm sóc sức khỏe, tặng quà cho thương binh, bệnh binh và gia đình liệt sĩ được triển khai ngày càng thiết thực, chu đáo. Bản thân tôi cũng được tỉnh quan tâm hỗ trợ xây dựng nhà ở, giúp cuộc sống ổn định hơn.
Vào các dịp lễ, kỷ niệm, tôi cùng nhiều người có công khác thường xuyên nhận được sự thăm hỏi, động viên của lãnh đạo các cấp và chính quyền địa phương. Tôi cũng vinh dự được gặp gỡ các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước.
Những tình cảm và sự quan tâm ấy giúp chúng tôi cảm nhận rõ sự tri ân của Đảng, Nhà nước và xã hội đối với những người có công, đồng thời tiếp thêm động lực để tiếp tục phát huy truyền thống cách mạng.
* Xin trân trọng cảm ơn bà về cuộc trò chuyện! Chúc bà luôn mạnh khỏe, tiếp tục là tấm gương sáng để thế hệ sau noi theo.