Gia tộc 10 đời nuôi voi ở hồ Lắk: Voi có linh hồn, biết vui buồn

Theo dõi Báo Gia Lai trên Google News

Gia đình M'nông ở hồ Lắk nuôi voi suốt 10 đời, tin rằng voi có linh hồn và cảm xúc. Nghề nuôi voi đang đối diện nhiều thách thức, nhưng tình yêu của họ vẫn bảo tồn văn hóa độc đáo này.

Ông Trần Đoàn, nguyên cán bộ Đài Truyền hình Đắk Lắk, dẫn chúng tôi tìm gặp gia đình ông Y Gah H'Mók ở xã Liên Sơn Lắk, tỉnh Đắk Lắk. Ngôi nhà của ông Y Gah nằm bên bờ hồ Lắk, phía xa là cánh rừng, nơi những đàn voi từng đi về như đàn trâu của buôn làng thuở xa xưa.

"Muốn hiểu voi Tây nguyên phải nghe người sống cùng voi kể chuyện", ông Đoàn nói. Và câu chuyện tại nhà ông Y Gah mở ra không chỉ về nghề nuôi voi, mà còn là nỗi lo giữ lại phần hồn của nghề nuôi voi đang dần phai nhạt .

"Có khi làm lễ cho voi còn lớn hơn đám tang người"

"Nhà tôi là đời thứ mười nuôi voi rồi", ông Y Gah H'Mók mở đầu bằng giọng chậm rãi.

Với người M'nông ở hồ Lắk, voi không chỉ là tài sản. Có voi đồng nghĩa với sự giàu có, uy tín và trách nhiệm với cộng đồng. Ngày xưa, muốn đổi một con voi nhỏ phải góp hàng chục con trâu, nhiều bộ chiêng quý, có khi cả buôn cùng chung sức mới đủ. "Mười nhà mới có một nhà có voi thôi", ông kể.

Ông Y Gah (phải) ngồi kể chuyện về nghề nuôi voi với ông Trần Đoàn
Ông Y Gah (phải) ngồi kể chuyện về nghề nuôi voi với ông Trần Đoàn

Ông Y Gah nói gia tộc lâu đời của mình không chỉ nuôi và thuần dưỡng voi mà còn tham gia các đội săn voi thuở trước tại Buôn Đôn.

"Tôi nghe cha kể lại lúc đó những người săn voi không chỉ cần gan dạ mà còn phải hiểu tập tính voi rừng. Họ tìm cách tách voi con khỏi đàn để mang về thuần dưỡng, vì con nhỏ dễ nuôi hơn", ông cho biết.

Thời ấy, quanh vùng này có thể bắt gặp đàn voi rừng xuất hiện thành hàng dài. Mỗi buôn thuần dưỡng rồi nuôi vài con voi là chuyện bình thường. Ban ngày voi vào rừng kiếm ăn, chiều lại lững thững quay về. Voi kéo gỗ dựng nhà dài, chở lúa, chở nông sản, tham gia góp sức trong lễ cưới, lễ tang, mừng nhà mới...

Người dân nhờ voi giúp việc rồi trả công bằng gạo, heo, bò, mang tính tượng trưng nhưng đầy nghĩa tình. "Người có voi không phải giàu để hưởng mà để làm việc cho buôn làng", ông Y Gah nói.

Một con voi của người M'nông sở hữu đang lội qua hồ Lắk để lên bờ chuẩn bị phục vụ du khách
Một con voi của người M'nông sở hữu đang lội qua hồ Lắk để lên bờ chuẩn bị phục vụ du khách

Điều khiến chúng tôi bất ngờ là cách người M'nông đối xử với voi. Khi voi chết, cả buôn làng tổ chức tang lễ như tiễn biệt một thành viên trong gia đình. Voi đực được chôn cùng khố, áo; voi cái có váy, có chiếu.

"Có khi làm lễ cho voi còn lớn hơn đám tang người", ông Y Gah kể. Với người M'nông, voi có linh hồn, biết vui buồn và hiểu tình cảm chủ dành cho nó.

Có con từng cứu chủ khỏi thú dữ, có con thấy chủ buồn thì dùng vòi nghịch nhẹ để làm vui. Nhưng nếu bị đối xử tệ, voi sẽ lì lợm, phá phách hoặc bỏ ăn đến chết. "Voi khôn lắm, biết ai thương nó thật", ông nhận xét.

Du khách cho con voi của gia đình ông Y Gah ăn chuối
Du khách cho con voi của gia đình ông Y Gah ăn chuối

Nhưng những ký ức ấy đang dần lùi xa. Ông Y Gah H'Mók dẫn chúng tôi ra mép hồ, nơi ngày xưa từng có đàn voi xuống uống nước, nay chỉ còn lau sậy và bãi đất trống.

"Cả vùng xung quanh hồ Lắk giờ còn 9 con voi thôi", giọng ông chùng xuống. Rừng ngày càng thu hẹp, nguồn thức ăn ít đi, nghề nuôi voi cũng dần mất người nối nghiệp.

Theo chân Y Vinh vào rừng đón voi

Mỗi buổi sáng, ông Y Vinh Ê Ung, con trai ông Y Gah, vào rừng đón voi về phục vụ khách du lịch. Chúng tôi theo chân ông men theo con đường mòn vào rừng. Từ trong rừng, bóng con voi hiện ra. Nó bước đến bên ông Vinh như gặp người thân lâu ngày. Ông Y Vinh gần như không cần ra lệnh, chỉ khẽ chạm tay là voi hiểu ý. "Nuôi voi phải hiểu nó như hiểu người nhà", ông nói.

Việc thuần dưỡng voi không có trường lớp nào dạy, tất cả dựa vào kinh nghiệm truyền đời. Khi mới bắt về, voi rất hoang dã. Người nuôi phải kiên nhẫn dạy voi từng chút như tập nghe lệnh, tập đứng yên, tập quỳ.

"Có con mất cả năm mới chịu nghe lời", Y Vinh kể rồi cười khi nhắc chuyện con voi hiện giờ nó cảm nhận sắp được nài voi rửa chân là tự quỳ xuống.

Y Vinh đưa voi về đến nhà chuẩn bị phục vụ du khách
Y Vinh đưa voi về đến nhà chuẩn bị phục vụ du khách

Người nuôi voi cũng học ngược lại từ chính voi. Khi đau bụng hay bị thương, voi tự tìm cây thuốc trong rừng để ăn. Người nuôi quan sát rồi ghi nhớ thành kinh nghiệm chữa bệnh. "Nó biết cây nào chữa bệnh còn giỏi hơn người", ông Y Gah chia sẻ.

Nhưng sống với voi không phải lúc nào cũng yên bình. Đáng sợ nhất là mùa voi động dục. Khi ấy mắt voi đỏ lên, tính khí thay đổi hoàn toàn. Một con voi hiền lành có thể trở nên hung dữ chỉ trong vài giờ.

"Người lạ đến gần rất nguy hiểm", ông cảnh báo. Cách duy nhất là thả voi vào rừng vài ngày cho dịu lại, không ai dám ép buộc.

Ông Y Gah cho rằng người nuôi voi cũng học những điều thú vị từ chính con voi
Ông Y Gah cho rằng người nuôi voi cũng học những điều thú vị từ chính con voi

Ông Y Vinh cho biết cách làm du lịch theo kiểu cũ không còn như trước. Nếu có khách, tổng thời gian một con voi chở khách hiện nay chỉ còn 2 giờ trong một ngày. Buổi tối, voi được thả vào rừng nghỉ ngơi.

Ngoài du lịch, voi vẫn tham gia lễ cúng, lễ tang hay những dịp quan trọng của buôn làng. Trong những khoảnh khắc ấy, voi không phải "dịch vụ" mà là một phần của cộng đồng.

Thế nhưng, những người nuôi voi giờ đứng giữa nhiều lựa chọn khó khăn. Nhiều chủ voi cho biết họ không phản đối việc cải thiện sức khỏe và các phúc lợi khác dành cho voi, thông qua mô hình du lịch thân thiện không cho du khách cưỡi voi.

Nhưng họ lo ngại vai trò của người nuôi voi truyền thống sẽ dần mất đi nếu mọi quyết định hoàn toàn thuộc về các tổ chức bên ngoài khi tham gia mô hình này.

Họ muốn chủ voi phải được đặt ở vị trí trung tâm. Vì với họ, voi là một thành viên trong gia đình, gắn bó mật thiết với đời sống, văn hóa và nghề nuôi voi truyền đời. "Mình chăm sóc mà không được quyền quyết định thì khó lắm, vì voi không chỉ là tài sản mà còn là bản sắc văn hóa", ông Y Vinh trải lòng.

Trong khi đó, mô hình cưỡi voi truyền thống cũng ngày càng bấp bênh vì khách ít dần. Giữa một bên là tập quán cũ đang mai một và một bên là mô hình mới còn nhiều ràng buộc, những người nuôi voi vẫn loay hoay tìm đường dung hòa.

Khách du lịch cưỡi voi đi dạo ở hồ Lắk
Khách du lịch cưỡi voi đi dạo ở hồ Lắk

Chiều xuống trên hồ Lắk, ông Vinh lại lặng lẽ dắt voi vào rừng. Bóng người và voi khuất dần giữa màu xanh thẫm của đại ngàn. "Nuôi voi không phải để làm giàu, là để giữ cái nghề của tổ tiên và bản sắc văn hóa của dân tộc mình", ông nói trước khi quay lưng bước tiếp.

Giữa nhịp sống hiện đại, câu nói ấy nghe thật chậm. Nhưng có lẽ chính sự chậm rãi ấy đang giữ lại phần hồn cuối cùng của vùng đất từng vang tiếng chân voi.

Bởi điều đáng lo nhất không phải chỉ là voi ít đi, mà là một ngày nào đó sẽ không còn ai biết cách nói chuyện với voi, đọc được ánh mắt của nó hay dắt nó trở về rừng khi chiều xuống. Khi ấy, mất đi không chỉ là một loài vật, mà là cả một nền văn hóa của đại ngàn Tây nguyên.

Du lịch thân thiện với voi là gì?

Với mô hình du lịch thân thiện, du khách được quan sát voi tự do đi lại, kiếm ăn, tắm… trong rừng; đi bộ cùng voi dưới sự hướng dẫn của quản tượng, tìm hiểu tập tính, tính cách và đời sống của từng cá thể voi; nghe kể về một biểu tượng văn hóa (voi) ở Tây nguyên, về nghề quản tượng, mối quan hệ lâu đời giữa người bản địa và voi...

So với du lịch cưỡi voi, điểm khác biệt lớn nhất là du khách chuyển từ cảm giác được cưỡi voi sang "đồng hành" với voi. Giá trị của chuyến đi không nằm ở việc được ngồi trên lưng voi, mà ở cơ hội hiểu và chứng kiến voi sống đúng với bản năng tự nhiên của nó.

Theo Quang Viên (TNO)

Có thể bạn quan tâm

Trầm tích sông Ba

Trầm tích sông Ba

(GLO)- Sông Ba đoạn qua xã Ia Dreh (tỉnh Gia Lai) mùa khô, vài con thuyền đánh cá nằm gối đầu nghỉ ngơi trên những doi cát. Chiều xuống, từ những bến sông, người dân vẫn ra tắm mát dù nước cạn tới mức có thể lội ra giữa dòng.

Nửa đời tìm cha, một đời lưu giữ ký ức

Nửa đời tìm cha, một đời lưu giữ ký ức

(GLO)- Hơn nửa thế kỷ sau chiến tranh, cựu chiến binh Trần Duy Đức vẫn lặng lẽ đi tìm những mảnh ghép của quá khứ. Từ hành trình tìm lại hình bóng người cha liệt sĩ, ông dành cả cuộc đời sưu tầm, ghi chép và lưu giữ lịch sử quê hương cùng những câu chuyện về những con người đã làm nên lịch sử.

Cạm bẫy ma tuý mới "pod chill" - Bài 2: Từ thuốc gây mê y khoa đến bẫy ma túy núp bóng pod chill

Cạm bẫy ma tuý mới "pod chill" - Bài 2: Từ thuốc gây mê y khoa đến bẫy ma túy núp bóng pod chill

Cầm trên tay chiếc “pod chill” nhỏ gọn, tỏa ra mùi hương trái cây ngọt ngào, nhiều bạn trẻ hồn nhiên nghĩ rằng mình chỉ đang dùng một sản phẩm giải trí thời thượng. Nhưng đằng sau làn khói thơm ấy lại là Etomidate - một hoạt chất gây mê y học bị giới tội phạm “biến tướng” thành ma túy nguy hiểm.

Miếu thờ liệt sĩ bên suối Hội Phú

Miếu thờ liệt sĩ bên suối Hội Phú

(GLO)- Không biết tên tuổi, quê quán những người lính hy sinh trong trận đánh Tết Mậu Thân 1968 tại Pleiku, người dân bên suối Hội Phú (phường Hội Phú, tỉnh Gia Lai) vẫn âm thầm thắp những nén nhang rồi lập miếu thờ ngay nơi các anh từng nằm xuống. 

Vị Xuyên - Bạn tôi vẫn còn đó

Vị Xuyên - Bạn tôi vẫn còn đó

(GLO)- Vùng biên giới Vị Xuyên, tỉnh Tuyên Quang (Hà Giang cũ) hôm nay đã đổi thay, nhưng những người đồng đội của tôi vẫn còn đó, nằm ngay ngắn trong đội hình “hàng thẳng hàng, lối thẳng lối, quân dung tươi tỉnh” tại Nghĩa trang Liệt sĩ Quốc gia Vị Xuyên.

Chị Djen giới thiệu những chùm răng rẽl vừa thu hái

Theo mùa răng rẽl

(GLO)- Mưa như trút nước xuống những cánh rừng ở xã Ðăk Sơmei sau nhiều tháng nắng khô khốc. Những cung đường rừng trơn như đổ mỡ, loang lổ vệt bánh xe máy trượt ngang. Thỉnh thoảng, giữa nền đường đỏ quạch sót lại vài chùm răng rẽl xanh mướt rơi vãi, dấu vết của những chuyến trở về từ rừng.

Ký ức không phai của nữ Anh hùng Kpă Ó

Ký ức không phai của nữ Anh hùng Kpă Ó

(GLO)- Chiến tranh đã lùi xa hơn nửa thế kỷ nhưng trong ngôi nhà nhỏ ở làng Bạc 1 (xã Chư Prông, tỉnh Gia Lai), ký ức về một thời hoa lửa vẫn vẹn nguyên qua từng câu chuyện của bà Kpă Ó - nữ Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân duy nhất ở khu vực phía Tây tỉnh trong cuộc kháng chiến chống Mỹ.

4 ngày làm vợ, 54 năm đợi chờ

4 ngày làm vợ, 54 năm đợi chờ

Sau 54 năm kể từ ngày liệt sĩ Nguyễn Văn Đinh ngã xuống trên chiến trường Quảng Trị, bà Nguyễn Thị Ngọ (Nghệ An) mới được đứng trên mảnh đất ông hy sinh. Hành trình ấy khép lại nỗi khắc khoải của một người vợ, nhưng mở ra câu chuyện lay động về tình yêu, sự thủy chung không phai theo năm tháng.

'Bí kíp' nón ngựa nghĩa quân Tây Sơn

'Bí kíp' nón ngựa nghĩa quân Tây Sơn

Nghệ nhân ưu tú Đỗ Văn Lan (80 tuổi, ông Ba Lan) đang giữ nguyên vẹn “bí kíp” tổ truyền làm “nón ngựa Phú Gia” mà ngày xưa nghĩa quân Tây Sơn đội nắng mưa hành quân thần tốc. Những chiếc nón không chỉ như một tác phẩm nghệ thuật mà còn rất bền.

Tiếng vọng trong những phiến đá rêu phong

Tiếng vọng trong những phiến đá rêu phong

(GLO)- Ẩn mình dưới tán rừng già trên dãy núi Bích Kê, lũy đá cổ Phú Hà (thôn Hòa Tân, xã Phù Mỹ Bắc) lặng lẽ tồn tại như một chứng nhân của thời gian. Những bức tường đá phủ rêu bền bỉ trước mưa nắng dường như đang gìn giữ câu chuyện về một vùng đất từng giữ vị trí trọng yếu trong lịch sử.

null