Nửa đời tìm cha, một đời lưu giữ ký ức

Theo dõi Báo Gia Lai trên Google News
nua-doi-tim-cha-mot-doi-di-luu-giu-ky-uc-bac-tran-duy-duc.png

Hơn nửa thế kỷ sau chiến tranh, cựu chiến binh Trần Duy Đức vẫn lặng lẽ đi tìm những mảnh ghép của quá khứ. Từ hành trình tìm lại hình bóng người cha liệt sĩ, ông dành cả cuộc đời sưu tầm, ghi chép và lưu giữ lịch sử quê hương cùng những câu chuyện về những con người đã làm nên lịch sử.

bac-tran-duy-duc-1-6959.jpg
Cựu chiến binh Trần Duy Đức và tập tản bút Nỗi đau còn đó, viết về những nỗi đau còn lại sau chiến tranh. Ảnh: Thanh Sáng

Khi nhắc về chiến tranh, cựu chiến binh Trần Duy Đức không chọn bắt đầu từ câu chuyện của chính mình. Ông nhắc đến những người mẹ từng nuôi giấu cán bộ, những người dân đào hầm bí mật, những đồng đội đã nằm lại và rất nhiều địa danh lịch sử ở quê hương An Nhơn.

Phải rất lâu sau, câu chuyện mới quay về gia đình, về người cha hy sinh trên chiến trường, người mẹ bị lính Nam Triều Tiên sát hại và người bà cũng không trở về sau một trận càn. Những mất mát riêng được ông kể bằng giọng điềm tĩnh như thể đó chỉ là một lát cắt trong ký ức của cả một thế hệ.

Nơi khởi nguồn ký ức

"Gia đình tôi thì cả nội ngoại đều ở chung một cái làng Hòa Phong, xã Nhơn Mỹ cũ, bây giờ thuộc phường An Nhơn..."

Bằng chất giọng trầm ấm, ông Trần Duy Đức chậm rãi đưa chúng tôi trở về Hòa Phong-ngôi làng gắn bó với nhiều thế hệ gia đình ông. Từ mạch ký ức ấy, câu chuyện dần mở rộng ra Nhơn Mỹ, vùng đất ông gắn bó suốt cuộc đời.

Trong ký ức của người đàn ông đã bước qua tuổi 81, Nhơn Mỹ trước hết là một vùng quê nghèo. "Nghèo nhất An Nhơn", ông nói, rồi gần như ngay lập tức nhắc đến điều ông xem là quan trọng hơn: đây là nơi phong trào cách mạng bén rễ rất sớm, nơi Chi bộ Hồng Lĩnh - chi bộ Đảng đầu tiên ở phía Nam tỉnh Bình Định - được thành lập từ tháng 10-1936.

Câu chuyện cứ thế nối tiếp bằng những con người. Ông nhắc đến những đảng viên đầu tiên của Chi bộ Hồng Lĩnh, những người sau này tiếp tục gây dựng phong trào cách mạng ở An Nhơn, Phù Cát rồi Bình Khê.

Rồi đến những con số dường như vẫn còn nguyên trong trí nhớ: “Nhơn Mỹ có 220 người tập kết ra Bắc - nhiều nhất An Nhơn thời bấy giờ; là địa phương có nhiều người thoát ly tham gia kháng chiến; có 418 liệt sĩ và 54 Bà mẹ Việt Nam Anh hùng”.

Lắng nghe ông kể, người đối diện dần nhận ra điều đọng lại không phải là những dấu mốc lịch sử hay những con số. Sau mỗi cái tên, mỗi sự kiện là hình bóng của những con người đã góp phần làm nên lịch sử của một vùng đất kiên trung.

Nhưng nếu chỉ nhìn Nhơn Mỹ qua những dữ liệu ấy thì e là vẫn chưa đủ. Điều đọng lại sâu nhất trong ông sau chiến tranh lại không phải những trận đánh. "Lòng dân là sâu sắc nhất" - ông Đức khẳng định.

Với người lính trực tiếp cầm súng, ký ức chiến trường có thể là điều không thể quên. Còn với những cán bộ bám trụ vùng sâu như ông, điều đọng lại sâu sắc nhất lại là sự chở che của người dân.

Những căn hầm bí mật được đào ngay dưới nền nhà, những gia đình chấp nhận đánh đổi cả tính mạng để nuôi giấu cán bộ, những bữa cơm sẻ nửa trong những ngày gian khó...

"Nếu không có dân thì sẽ không có phong trào cách mạng. Dân là người làm nên lịch sử." Từng lời chậm rãi được chắt ra từ trải nghiệm của một người từng nhiều năm sống giữa những vùng địch kiểm soát.

Ông từng chứng kiến không ít đồng đội hy sinh khi hầm bí mật bị lộ. Cũng chính vì hiểu cái giá của sự hy sinh ấy nên hơn nửa thế kỷ sau, mỗi khi nhắc đến chiến tranh, điều ông muốn lưu giữ trước hết không phải những chiến công, mà là tinh thần quân - dân một lòng.

Tinh thần ấy cũng được viết nên từ những cuộc chia ly của biết bao gia đình trên vùng đất cách mạng, và gia đình ông là một trong số đó.

Những mảnh ghép về cha

2026-04-17-01-31-419.png
Người dân Quy Nhơn luyến tiễn đưa cán bộ, bộ đội tập kết ra miền Bắc. Ảnh tư liệu

Ngày 16-5-1955, chuyến tàu cuối cùng đưa cán bộ, chiến sĩ Liên khu 5 tập kết ra Bắc rời bến cảng Quy Nhơn. Trong dòng người tiễn biệt hôm ấy có mẹ con cậu bé Trần Duy Đức mới gần 9 tuổi.

Hơn bảy mươi năm đã trôi qua, nhưng cuộc chia tay bên bến cảng vẫn hiện rõ trong ký ức ông.

"Mẹ lặng lẽ khóc. Cha mắt cũng đỏ hoe. Không ai nói nhiều. Trước lúc đi, cha chỉ giơ hai ngón tay."

Hai ngón tay ấy là lời hẹn của một người chồng với người vợ trẻ, của một người cha với đứa con còn thơ dại. Đó cũng là niềm tin của biết bao gia đình lúc bấy giờ: hai năm sau sẽ diễn ra cuộc tổng tuyển cử, đất nước thống nhất và những người ra đi sẽ trở về.

"Thế nhưng hai năm ấy kéo dài thành hai mươi năm..."

Ông lặng đi sau khi nói câu ấy. Suốt hai thập niên chiến tranh, gia đình ông không một lần được đoàn tụ. Trong ký ức của cậu bé năm nào, đó là hình ảnh cuối cùng về người cha.

bac-tran-duy-duc-6.jpg
Bức thư mà liệt sĩ Trần Hưng gửi cho gia đình trước khi trở lại chiến trường miền Nam. Ảnh: Thanh Sáng

Năm 1962, khi chuẩn bị vượt Trường Sơn trở lại chiến trường miền Nam, người cha viết một lá thư gửi về quê. Phải gần nửa năm sau, giữa năm 1963, lá thư mới đến được tay người vợ - khi bà đã trở thành cơ sở cách mạng bí mật.

Bà cẩn thận cuộn lá thư nhỏ chỉ bằng ngón tay cái, đặt cùng hai chiếc nhẫn cưới vào một chiếc túi vải nhỏ, ghim sát trong người như cất giữ điều quý giá nhất.

Ba năm sau, tháng 4-1966, bà bị lính Nam Triều Tiên sát hại. Khi những người đồng đội tìm đến chôn cất, họ phát hiện chiếc túi nhỏ vẫn còn nguyên trên người bà, bên trong là lá thư và hai chiếc nhẫn cưới. Đó gần như là tất cả những gì còn lại của một cuộc hôn nhân bị chiến tranh chia cắt.

“Chỉ ít tháng sau, bà nội tôi cũng hy sinh trong một trận càn. Đến tháng 5-1970, người cha ngã xuống tại căn cứ Tỉnh ủy Phú Yên”. Chỉ trong vài năm, chiến tranh đã lấy đi gần như tất cả những người thân yêu nhất của ông. Và điều khiến ông day dứt nhất là ký ức về người cha vẫn còn dang dở.

Phải đến sau ngày đất nước thống nhất, ông mới bắt đầu hành trình đi tìm từng mảnh ghép để hoàn thiện hình bóng người cha trong ký ức của mình.

Ông tìm gặp những người từng chiến đấu cùng cha, lắng nghe từng câu chuyện, lần theo từng địa danh ở Phú Yên - nơi người cha hoạt động và hy sinh. Chính những lời kể ấy đã giúp ông hình dung rõ hơn về con người mà mình mới chỉ kịp ở bên chưa đầy chín năm.

07254.jpg
Bức ảnh liệt sĩ Trần Hưng (ngoài cùng bên phải) chụp cùng đồng đội khi học tập ở Hà Nội, cũng là bức ảnh duy nhất về cha mà ông Trần Duy Đức có được cho đến khi nhận được Hồ sơ đi B của cha vào năm 2025. Ảnh: Thanh Sáng

Từ bức ảnh chụp tập thể của cha chụp cùng đồng đội, ông mang đến tiệm ảnh để cắt riêng tấm chân dung đặt lên bàn thờ. Lần đầu tiên sau bao năm, gia đình mới có một bức chân dung đúng nghĩa của người cha.

Năm 2017, nhờ được nhiều sự hỗ trợ, hài cốt liệt sĩ Trần Hưng được cải táng từ Phú Yên về An Nhơn, nằm cạnh người vợ đã chờ ông suốt hơn nửa thế kỷ - liệt sĩ Lê Thị Lang.

Ông xúc động khi nhớ lại: người dân trong làng đến tiễn đưa đông như một đám tang mới. Có lẽ, với họ, đó không chỉ là ngày một người liệt sĩ trở về, mà còn là ngày một lời hẹn dang dở cuối cùng cũng được khép lại.

Nhưng hành trình của người con vẫn chưa thể dừng.

Tháng 5-2025, tại Lễ kỷ niệm 70 năm hoàn thành việc chuyển quân tập kết ra Bắc của cán bộ chiến sỹ đồng bào và học sinh miền Nam tại Quy Nhơn, ông Trần Duy Đức vinh dự đón nhận hồ sơ đi B của người cha từ Phó Chủ tịch nước Võ Thị Ánh Xuân. Sau gần bảy mươi năm kể từ ngày tiễn cha ở bến cảng, những tài liệu ấy đã giúp ông hiểu đầy đủ hơn về hành trình hoạt động, chiến đấu và hy sinh của cha mình.

nghia-5-17474094974341095618260.jpg
Ông Trần Duy Đức vinh dự đón nhận hồ sơ đi B của người cha từ Phó Chủ tịch nước Võ Thị Ánh Xuân. Ảnh: Báo Chính phủ

Một cuộc chia tay. Một lá thư. Hai chiếc nhẫn cưới. Một bức ảnh được cắt từ ảnh tập thể. Những lời kể của đồng đội. Một ngôi mộ được đưa về quê nhà. Và cuối cùng là bộ hồ sơ đi B.

Mỗi mảnh ký ức đến vào một thời điểm khác nhau, nhưng tất cả đã ghép lại hình bóng người cha trong ký ức của người con sau gần trọn một đời người.

Lưu giữ lịch sử qua trang viết

Đi tìm cha, ông Trần Duy Đức hiểu rằng ký ức không tự nhiên còn mãi. Nếu không có người gìn giữ, nhiều cuộc đời rồi cũng sẽ chìm vào quên lãng.

Có lẽ, chính những khoảng trống mà chiến tranh để lại trong cuộc đời mình khiến ông hiểu hơn ai hết rằng, ký ức nếu không được lưu giữ sẽ dần mất đi theo thời gian. Người ra đi ngày một nhiều, những nhân chứng của chiến tranh cũng lần lượt khuất bóng. Nếu không có ai kịp ghi lại, rồi sẽ có những câu chuyện không bao giờ còn người kể.

bac-tran-duy-duc-3.jpg
Ở tuổi 80, ông Trần Duy Đức vẫn duy trì thói quen viết hàng ngày. Ảnh: Thanh Sáng

Thế là ông viết. Ban đầu là những trang lịch sử Đảng bộ, lịch sử truyền thống cách mạng của các xã, phường ở An Nhơn. Càng đi, ông càng gặp nhiều nhân chứng, càng nghe nhiều câu chuyện mà sách vở chưa từng ghi chép.

Ông cười hiền khi nhắc về thói quen ấy: "Người ta tích lũy tiền, còn bác tích lũy những câu chuyện."

Hơn nửa thế kỷ, những câu chuyện ấy trở thành vốn liếng để ông viết hàng chục đầu sách về lịch sử địa phương, các công trình văn hóa - lịch sử của quê hương An Nhơn, những Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân, những Bà mẹ Việt Nam Anh hùng và cả những nạn nhân chất độc da cam vẫn đang mang trên mình di chứng của chiến tranh.

Trong số ấy, điều khiến ông day dứt nhất vẫn là những người mẹ.

Ông kể, khi được giao thực hiện hồ sơ đề nghị phong tặng danh hiệu Bà mẹ Việt Nam Anh hùng rồi sau này viết cuốn Còn đó nỗi đau, ông đã tìm đến từng gia đình, gặp từng nhân chứng, sau đó chọn lọc để ghi lại cuộc đời của 45 người mẹ tiêu biểu ở An Nhơn.

bac-tran-duy-duc-1-8584.jpg
Ông Trần Duy Đức và cuốn sách Còn đó nỗi đau. Ảnh: Thanh Sáng

Càng viết, ông càng nhận ra, phía sau mỗi tấm bằng "Bà mẹ Việt Nam Anh hùng" là một cuộc đời gần như không thể kể hết bằng vài dòng tiểu sử.

Có người tiễn chồng đi tập kết rồi một mình nuôi con giữa những năm tháng bị địch kìm kẹp. Có người lần lượt nhận tin các con hy sinh mà không một lần được nhìn mặt. Có người cả tuổi xuân chỉ gắn với những cuộc chia ly.

Ông vẫn nhớ như in câu nói của mẹ VNAH Lê Thị Chiểu trước lúc qua đời:

"Người ta sinh con năm một. Còn mẹ thì con chết năm một..."

Giọng ông hơi lạc đi. “Trong bài hát, ba lần tiễn con đi, hai lần khóc thầm lặng lẽ. Còn đây mẹ Chiểu tới ba lần ầm thầm chịu đựng nỗi đau mà không một lần được thấy mặt con lần cuối”. Chính những câu chuyện ấy khiến ông không thể dừng viết.

Không chỉ các bà mẹ, những người đồng đội từng bám trụ vùng sâu, những người dân đào hầm bí mật, những nạn nhân chất độc da cam hay những con người bình dị đã góp phần làm nên lịch sử của quê hương... lần lượt bước vào trang sách của ông.

Ông bảo, nhiều người hỏi vì sao đã ngoài 80 tuổi vẫn còn miệt mài đọc tư liệu và cặm cụi bên bàn viết. Ông chỉ cười. Bởi ông hiểu, thời gian không chờ ai.

Mỗi năm trôi qua lại có thêm những nhân chứng không còn nữa. Có những người nếu hôm nay không kịp gặp thì ngày mai sẽ chẳng còn cơ hội.

Có lẽ vì vậy mà ông luôn tranh thủ từng cuộc gặp, từng câu chuyện, từng tấm ảnh cũ, từng lá thư đã úa màu theo năm tháng. Với ông, mỗi tư liệu được lưu giữ cũng giống như thêm một mảnh ghép được đặt đúng vị trí trong dòng chảy lịch sử.

Năm nay, ở tuổi 81, ông Trần Duy Đức vẫn giữ thói quen cũ mỗi dịp 27-7. Ông cùng gia đình lên nghĩa trang, thắp hương cho cha, cho mẹ và những người thân đã nằm lại sau chiến tranh.

Lời hẹn "hai năm" ngày ấy cuối cùng cũng phải mất hơn nửa thế kỷ mới khép lại, khi người cha được trở về nằm cạnh người vợ ở quê nhà. Nhưng có lẽ, hành trình của ông vẫn chưa dừng lại.

Trên bàn làm việc của người cựu chiến binh vẫn còn những chồng tài liệu, những cuốn sổ ghi chép dở và những bản thảo đang tiếp tục được viết. Bởi với ông, gìn giữ ký ức không chỉ là cách nhớ về người cha của mình.

Đó còn là một cách trả nghĩa với những người đã hy sinh, với những người bình dị đã làm nên lịch sử và với chính quê hương đã nuôi ông lớn lên giữa những năm tháng khốc liệt nhất của chiến tranh.

Có thể bạn quan tâm

Chị Djen giới thiệu những chùm răng rẽl vừa thu hái

Theo mùa răng rẽl

(GLO)- Mưa như trút nước xuống những cánh rừng ở xã Ðăk Sơmei sau nhiều tháng nắng khô khốc. Những cung đường rừng trơn như đổ mỡ, loang lổ vệt bánh xe máy trượt ngang. Thỉnh thoảng, giữa nền đường đỏ quạch sót lại vài chùm răng rẽl xanh mướt rơi vãi, dấu vết của những chuyến trở về từ rừng.

Ký ức không phai của nữ Anh hùng Kpă Ó

Ký ức không phai của nữ Anh hùng Kpă Ó

(GLO)- Chiến tranh đã lùi xa hơn nửa thế kỷ nhưng trong ngôi nhà nhỏ ở làng Bạc 1 (xã Chư Prông, tỉnh Gia Lai), ký ức về một thời hoa lửa vẫn vẹn nguyên qua từng câu chuyện của bà Kpă Ó - nữ Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân duy nhất ở khu vực phía Tây tỉnh trong cuộc kháng chiến chống Mỹ.

Chiếc a chói giữa rừng Trường Sơn

Chiếc a chói giữa rừng Trường Sơn

Dưới mái hiên nhà sàn ở xã La Lay (Quảng Trị), tiếng dao chẻ tre vang lên đều đặn giữa buổi sớm. Nghệ nhân Hồ Văn Thành ngồi bên bó mây vừa lấy từ rừng về. Ông tỉ mẩn đường dao chuốt từng sợi nan tre. Ở miền tây Quảng Trị, hình ảnh ấy không hiếm gặp...

Nghị lực phi thường của người thương binh hạng nặng Lê Thái Hà

Nghị lực phi thường của người thương binh hạng nặng Lê Thái Hà

(GLO)- Khi bị thương nặng tại chiến trường Campuchia, ông Lê Thái Hà (trú phường Bình Định, tỉnh Gia Lai) không nghĩ mình sẽ sống sót. Phục viên với sức khỏe suy giảm đến 91%, ông cũng từng không dám mơ đến những điều xa xôi về tương lai. Vậy mà người cựu chiến binh ấy đã can trường vượt qua tất cả.

Tiếng vọng trong những phiến đá rêu phong

Tiếng vọng trong những phiến đá rêu phong

(GLO)- Ẩn mình dưới tán rừng già trên dãy núi Bích Kê, lũy đá cổ Phú Hà (thôn Hòa Tân, xã Phù Mỹ Bắc) lặng lẽ tồn tại như một chứng nhân của thời gian. Những bức tường đá phủ rêu bền bỉ trước mưa nắng dường như đang gìn giữ câu chuyện về một vùng đất từng giữ vị trí trọng yếu trong lịch sử.

Nguyễn Vũ Mạnh Khang trở về trong sự chào đón nồng nhiệt. Ảnh: Hồ Điểm

Từ những câu hỏi về ánh sáng…

(GLO)- Giành huy chương bạc tại kỳ thi Olympic Vật lý châu Âu (EuPhO) 2026, Nguyễn Vũ Mạnh Khang, học sinh Trường THPT chuyên Lê Quý Ðôn (phường Quy Nhơn, tỉnh Gia Lai) góp phần cùng đội tuyển Việt Nam ghi dấu ấn tại sân chơi học thuật quốc tế.

Hành trình lạc lối sau giấc mơ đổi đời

Hành trình lạc lối sau giấc mơ đổi đời

(GLO)- Tin vào những lời hứa hẹn về cuộc sống sung túc và cơ hội định cư ở nước thứ ba, nhiều người dân ở Gia Lai đã vượt biên sang Thái Lan. Những tháng ngày sống chui lủi, thiếu thốn, ly tán là cái giá đắt cho lựa chọn sai lầm, đồng thời là lời cảnh tỉnh về hệ lụy của di cư trái phép.

Khép lại cuộc chia ly sau 51 năm

Tìm lại người thân sau 51 năm lưu lạc trên đường 7

(GLO)- Năm 1975, giữa dòng người di tản trên đường 7 (nay là quốc lộ 25), cô bé Hồ Thị Diễm lạc mất gia đình và được người Jrai ở buôn Du (xã Ia Rsai, tỉnh Gia Lai) cưu mang, nuôi dưỡng. Hơn nửa thế kỷ sau, đứa trẻ lạc năm nào bất ngờ tìm lại được người thân nhờ một video trên YouTube.

Khi độc mộc trôi vào ký ức

Khi thuyền độc mộc trôi vào ký ức

(GLO)- Những con thuyền độc mộc thanh mảnh như chiếc lá từng nhẹ lướt trên dòng Pô Cô đã biến mất. Cảm giác tĩnh lặng xuôi dòng bị thay thế bởi tiếng thuyền máy. Bóng người chưa kịp in xuống đáy nước đã nhòa tan theo bọt sóng trắng xóa hai bên mạn thuyền.

null