Chợ ở Quy Nhơn xưa

Theo dõi Báo Gia Lai trên Google News

Với vùng đất Quy Nhơn xưa (nay thuộc tỉnh Gia Lai), tìm hiểu những ngôi chợ cũ cũng là lần giở lại ký ức về quá trình hình thành và phát triển của một đô thị thương cảng, đặc biệt trên phương diện giao thương.

Từ những phiên chợ bên bến nước

Từ đầu thế kỷ 19, Quy Nhơn đã mang dáng dấp của một đô thị thương nghiệp. Tư liệu cho biết toàn tỉnh Bình Định khi ấy có tới 118 chợ, trong đó ở khu vực Quy Nhơn có các chợ đông đúc, nhộn nhịp: Cẩm Thượng, Thị Nại, Tháp Đôi, chợ Dinh… Những chợ này đã sớm hình thành mạng lưới giao thương khá sầm uất.

Một phiên chợ sáng ở Quy Nhơn năm 1887
Một phiên chợ sáng ở Quy Nhơn năm 1887

Nổi bật trong số đó là chợ Giã, còn gọi là chợ xóm Tấn (thuộc P.Hải Cảng cũ, nay là P.Quy Nhơn). Đây vốn là khu bến cảng thuyền buôn tấp nập ra vào. Mỗi buổi sớm, ngư dân mang cá tươi lên bến, tạo nên một chợ cá nổi tiếng của phủ Quy Nhơn. Hình ảnh ấy đi vào ca dao: Ai về cửa Giã chiều hôm/ Nấm mang đưa xuống, cá chuồn đưa lên.

Không chỉ là nơi mua bán, cửa Giã còn là điểm tụ hội của những thuyền buôn lớn. Có người đến rồi ở lại, mở hiệu buôn, dựng nên những dãy phố nhỏ ven bến. Sự phồn thịnh ấy được dân gian đúc kết bằng câu: "Tiền của nghênh ngang, là chợ cửa Giã". Ngày nay, dấu tích bến Giã chỉ còn là một bãi cát ven đầm Thị Nại, nhưng ký ức về một thương cảng sôi động vẫn còn lưu lại trong sách vở và dân gian.

Chợ Thị Nại, về sau quen gọi là chợ Chánh Thành (ở khu vực gần chợ Lớn Quy Nhơn sau này), từng giữ vai trò trung tâm của Quy Nhơn xưa. Ngoài việc giao thương, đây còn là địa điểm gắn với nhiều biến động lịch sử. Cuối thế kỷ 18, khu vực này là chiến địa giữa quân Tây Sơn và quân Nguyễn Ánh.

Sách Đại Nam nhất thống chí cho biết Nguyễn Ánh nhiều lần đem quân đóng tại chợ Thị Nại để tổ chức các cuộc tiến công. Sang thời Nguyễn, triều đình còn sử dụng chợ Thị Nại như một đầu mối điều phối lúa gạo cho nhiều vùng, cho thấy vai trò kinh tế đặc biệt của khu chợ này trong hệ thống thương mại khu vực.

Mỗi ngôi chợ một sắc thái riêng

Cùng với đó, chợ Cẩm Thượng nằm bên bến vạn, gần khu vực đường Bạch Đằng (nay thuộc P.Quy Nhơn), cũng là một trung tâm buôn bán lớn. Thuyền bè cập bến, hàng hóa trao tay, người tứ xứ tụ về. Dân gian lưu truyền giai thoại rằng chợ nhộn nhịp đến mức "người âm cũng theo về buôn bán", nên còn được gọi là chợ Ma. Dẫu chỉ là cách nói nửa thực nửa hư, chi tiết ấy cũng phần nào gợi lên sự phồn thịnh của khu chợ một thời.

Ngoài các chợ lớn, nhiều chợ nhỏ ở Quy Nhơn xưa cũng mang những sắc thái riêng. Chợ Cháo (ở P.Trần Phú cũ, nay thuộc P.Quy Nhơn) chuyên bán cá cháo - loài cá mắt to, thịt trắng, thơm ngon. Chợ họp từ tờ mờ sáng, phục vụ cư dân ven biển.

Chợ Tháp Đôi (ở P.Đống Đa cũ, nay thuộc P.Quy Nhơn) nằm dưới chân tháp cổ, chuyên trao đổi nông thổ sản. Chợ Đèn Đỏ (ở P.Lê Hồng Phong cũ, nay thuộc P.Quy Nhơn) gắn với dấu tích ga xe lửa Quy Nhơn thời Pháp. Còn chợ Dinh (ở P.Nhơn Bình cũ, nay thuộc P.Quy Nhơn) lại gắn với câu chuyện một cung nhân triều Gia Long về quê lập chợ, để rồi trở thành nơi buôn bán đông vui: Đố anh con rít mấy chân/ Cầu Ô mấy nhịp, chợ Dinh mấy người?

Nhìn tổng thể, hệ thống chợ ở Quy Nhơn thế kỷ 19 vừa đa dạng về quy mô, mặt hàng, vừa vận hành linh hoạt theo nhịp sống cư dân. Có chợ đông từ sáng sớm, có chợ tấp nập buổi chiều, có chợ nhộn nhịp suốt ngày. Các chợ lớn như Thị Nại, Cẩm Thượng, chợ Dinh… đã trở thành những hạt nhân thương nghiệp, kết nối với bến cảng, làng nghề và vùng sản xuất, góp phần hình thành diện mạo một phố cảng Quy Nhơn sầm uất.

Chợ xưa và diện mạo phố cảng

Bước sang đầu thế kỷ 20, hệ thống chợ tiếp tục giữ vai trò quan trọng trong đời sống thương mại của phố cảng Quy Nhơn. Nhiều chợ hoạt động nhộn nhịp với quy mô khác nhau như chợ Giã, chợ Dinh, chợ Lớn Quy Nhơn, chợ Mai, chợ Xổm, chợ Cháo, chợ Đèn Đỏ…

Thời Pháp thuộc, chợ Lớn Quy Nhơn là trung tâm thương mại chính của đô thị này. Hàng hóa được mang đến chợ rất phong phú: tơ sợi, lụa dệt, cau, da súc vật, sừng, đậu phộng, gỗ, bông, gạo, muối, nước mắm, cá khô… phục vụ nhu cầu tiêu dùng tại chỗ hoặc xuất cảng.

Đặc biệt, từ khá sớm tại chợ Lớn Quy Nhơn đã có sự hiện diện của thương nhân nước ngoài. Người Âu bán các mặt hàng nhập khẩu phục vụ giới công chức và cư dân Pháp; người Hoa chuyên kinh doanh sợi bông, trà, sành sứ, giấy, thuốc lá; còn thương nhân Ấn Độ chủ yếu buôn bán tơ lụa và hương liệu…

Một mặt hàng lâm sản có giá trị lớn tại chợ Lớn Quy Nhơn thời điểm ấy là quế. Quế được đem bán để đổi lấy muối và cá khô, phản ánh rõ nét mối liên kết trao đổi giữa miền núi và miền biển. Nhu cầu giao thương đủ lớn để chợ hoạt động liên tục hằng ngày.

Trong tác phẩm Ai có về Quy Nhơn, nhà nghiên cứu Trần Đình Thái từng mô tả cảnh chợ búa nơi đây tấp nập kẻ mua người bán, với đủ loại hàng hóa từ nông sản, thổ sản đến hàng tạp hóa; những quán nem chua, chả giò mở cửa thâu đêm suốt sáng.

Theo công trình Lịch sử thành phố Quy Nhơn, thương mại Quy Nhơn phát triển khá nhanh trong nửa đầu thế kỷ 20, tập trung ở khu vực cảng biển, đường Gia Long (nay là đường Trần Hưng Đạo), các tuyến phố lớn và hệ thống chợ trong thành phố. Điều đó phần nào thể hiện qua lượng hàng hóa bốc dỡ tại cảng Quy Nhơn: năm 1904 đạt 24.293 tấn, đến năm 1930 tăng lên khoảng 40.000 tấn và năm 1940 đạt khoảng 80.000 tấn. Sự gia tăng mạnh mẽ ấy cho thấy hoạt động thương mại ở Quy Nhơn ngày càng sôi động.

Nhắc lại những ngôi chợ xưa không chỉ là để hoài niệm. Đó còn là cách nhận diện căn cốt của vùng đất này - một Quy Nhơn được gây dựng từ những bến nước, phiên chợ và sự cần cù buôn bán của bao lớp cư dân. Từ những mái chợ đơn sơ ngày trước, một đô thị thương cảng đã dần thành hình, lặng lẽ mà bền bỉ, góp phần tạo nên diện mạo Quy Nhơn năng động, giàu sức sống hôm nay.

Theo Thúc Giáp (TNO)

Có thể bạn quan tâm

Làng xưa nay đã đổi thay

Làng xưa nay đã đổi thay

(GLO)- Sau khi về định cư ở vùng đất mới, cuộc sống của người dân 4 làng Plei Pông, Kinh Pêng, Plei Trớ và Plei Hek thuộc xã Chư A Thai (là các làng căn cứ cách mạng trong 2 cuộc kháng chiến chống Pháp và Mỹ, còn gọi là 4 làng Ðồn) đã có nhiều đổi thay rõ nét.

Mang con dấu đến bản

Mang con dấu đến bản

Hai đứa con đã 15 và 13 tuổi, nhưng lần đầu tiên, vợ chồng anh Moong Văn Phong mới đi làm khai sinh cho con khi Trung tâm Phục vụ hành chính công xã Nhôn Mai (Nghệ An) mang con dấu đến tận bản để làm thủ tục cho dân.

Những dáng lính vùng biên

Những dáng lính vùng biên

(GLO)- Tôi gặp những người lính trên những chuyến tàu tuần tra ngoài khơi xa, giữa những hải trình dọc dài duyên hải đồng hành, làm chỗ dựa bảo vệ ngư dân và giữ gìn an ninh trật tự trên biển quê hương; gặp họ giữa những vùng biên giới Campuchia heo hút đầy nắng gió.

Ruổi rong đời chăn vịt

Ruổi rong đời chăn vịt

(GLO)- Sau mỗi mùa gặt, những cánh đồng lúa ở các xã An Lương, An Hòa, An Vinh, Tuy Phước… lại rộn ràng bởi đàn vịt hàng nghìn con tìm về kiếm ăn. Gắn với đàn vịt, những người chăn vịt miệt mài rong ruổi qua nhiều cánh đồng, lấy mùa gặt làm nhịp mưu sinh.

Trầm tích sông Ba

Trầm tích sông Ba

(GLO)- Sông Ba đoạn qua xã Ia Dreh (tỉnh Gia Lai) mùa khô, vài con thuyền đánh cá nằm gối đầu nghỉ ngơi trên những doi cát. Chiều xuống, từ những bến sông, người dân vẫn ra tắm mát dù nước cạn tới mức có thể lội ra giữa dòng.

Cạm bẫy ma tuý mới "pod chill" - Bài 2: Từ thuốc gây mê y khoa đến bẫy ma túy núp bóng pod chill

Cạm bẫy ma tuý mới "pod chill" - Bài 2: Từ thuốc gây mê y khoa đến bẫy ma túy núp bóng pod chill

Cầm trên tay chiếc “pod chill” nhỏ gọn, tỏa ra mùi hương trái cây ngọt ngào, nhiều bạn trẻ hồn nhiên nghĩ rằng mình chỉ đang dùng một sản phẩm giải trí thời thượng. Nhưng đằng sau làn khói thơm ấy lại là Etomidate - một hoạt chất gây mê y học bị giới tội phạm “biến tướng” thành ma túy nguy hiểm.

Những dấu vết bí ẩn ven sông Ba

Những dấu vết bí ẩn ven sông Ba

(GLO)- Men theo bờ sông Ba đoạn chảy qua buôn Tơnia (xã Ia Rsai, tỉnh Gia Lai), khi nắng cuối ngày hắt những tia vàng lấp lánh trên mặt nước, chúng tôi bắt gặp những vật thể lạ nhô lên khỏi lớp đất sét. 

Miếu thờ liệt sĩ bên suối Hội Phú

Miếu thờ liệt sĩ bên suối Hội Phú

(GLO)- Không biết tên tuổi, quê quán những người lính hy sinh trong trận đánh Tết Mậu Thân 1968 tại Pleiku, người dân bên suối Hội Phú (phường Hội Phú, tỉnh Gia Lai) vẫn âm thầm thắp những nén nhang rồi lập miếu thờ ngay nơi các anh từng nằm xuống. 

Vị Xuyên - Bạn tôi vẫn còn đó

Vị Xuyên - Bạn tôi vẫn còn đó

(GLO)- Vùng biên giới Vị Xuyên, tỉnh Tuyên Quang (Hà Giang cũ) hôm nay đã đổi thay, nhưng những người đồng đội của tôi vẫn còn đó, nằm ngay ngắn trong đội hình “hàng thẳng hàng, lối thẳng lối, quân dung tươi tỉnh” tại Nghĩa trang Liệt sĩ Quốc gia Vị Xuyên.

Ký ức không phai của nữ Anh hùng Kpă Ó

Ký ức không phai của nữ Anh hùng Kpă Ó

(GLO)- Chiến tranh đã lùi xa hơn nửa thế kỷ nhưng trong ngôi nhà nhỏ ở làng Bạc 1 (xã Chư Prông, tỉnh Gia Lai), ký ức về một thời hoa lửa vẫn vẹn nguyên qua từng câu chuyện của bà Kpă Ó - nữ Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân duy nhất ở khu vực phía Tây tỉnh trong cuộc kháng chiến chống Mỹ.

Chiếc a chói giữa rừng Trường Sơn

Chiếc a chói giữa rừng Trường Sơn

Dưới mái hiên nhà sàn ở xã La Lay (Quảng Trị), tiếng dao chẻ tre vang lên đều đặn giữa buổi sớm. Nghệ nhân Hồ Văn Thành ngồi bên bó mây vừa lấy từ rừng về. Ông tỉ mẩn đường dao chuốt từng sợi nan tre. Ở miền tây Quảng Trị, hình ảnh ấy không hiếm gặp...

Nghị lực phi thường của người thương binh hạng nặng Lê Thái Hà

Nghị lực phi thường của người thương binh hạng nặng Lê Thái Hà

(GLO)- Khi bị thương nặng tại chiến trường Campuchia, ông Lê Thái Hà (trú phường Bình Định, tỉnh Gia Lai) không nghĩ mình sẽ sống sót. Phục viên với sức khỏe suy giảm đến 91%, ông cũng từng không dám mơ đến những điều xa xôi về tương lai. Vậy mà người cựu chiến binh ấy đã can trường vượt qua tất cả.

4 ngày làm vợ, 54 năm đợi chờ

4 ngày làm vợ, 54 năm đợi chờ

Sau 54 năm kể từ ngày liệt sĩ Nguyễn Văn Đinh ngã xuống trên chiến trường Quảng Trị, bà Nguyễn Thị Ngọ (Nghệ An) mới được đứng trên mảnh đất ông hy sinh. Hành trình ấy khép lại nỗi khắc khoải của một người vợ, nhưng mở ra câu chuyện lay động về tình yêu, sự thủy chung không phai theo năm tháng.

'Bí kíp' nón ngựa nghĩa quân Tây Sơn

'Bí kíp' nón ngựa nghĩa quân Tây Sơn

Nghệ nhân ưu tú Đỗ Văn Lan (80 tuổi, ông Ba Lan) đang giữ nguyên vẹn “bí kíp” tổ truyền làm “nón ngựa Phú Gia” mà ngày xưa nghĩa quân Tây Sơn đội nắng mưa hành quân thần tốc. Những chiếc nón không chỉ như một tác phẩm nghệ thuật mà còn rất bền.

null