Ðó cũng là lúc những lò rượu ở làng Bàu Ðá bắt đầu đỏ lửa cho vụ rượu quan trọng nhất trong năm…
“Đất Vua” là cách gọi gợi nhiều liên tưởng khi nói về An Nhơn, bởi nơi này từng là kinh đô Vương quốc Champa và vương triều Thái Đức Nguyễn Nhạc. Dọc theo sông Côn, nhiều làng nghề hình thành với mật độ cao. Sự tồn tại của những làng nghề ấy không phải ngẫu nhiên.
Để đảm bảo phục vụ nhu cầu về lương thực, vật dụng, sản vật phục vụ đời sống kinh thành, những làng nghề đã mọc lên và tạo nên không gian sản xuất sôi động ở vùng phụ cận. Trong đó như một lẽ hiển nhiên, có nghề nấu rượu.
Hồn đất men đời
Suốt bao thế kỷ đi qua với những phế hưng, nơi đây vẫn còn lưu dấu người xưa, về một thuở phồn thịnh. Tôi lớn lên ở xứ này, từng chút một nơi đất và người An Nhơn hun đúc nên căn cước tâm hồn tôi và bao người. Tôi nghĩ rằng, có một cách để hiểu An Nhơn qua những di tích còn lại, đồng thời qua những làng nghề vẫn đang sống ở nơi mà người ta hay gọi là “đất trăm nghề”.
Những gì còn lại hôm nay, vì thế, có thể được nhìn như những lớp trầm tích của một thời. Điều quan trọng hơn là làm thế nào để lớp trầm tích lịch sử ấy trở thành một phần của đời sống đương đại. Rượu Bàu Đá, có lẽ là một trong những sản phẩm có thể kể câu chuyện ấy…
Tôi nhớ một chiều khi vợ chồng tiến sĩ, nghệ sĩ điêu khắc người Thái Lan, Pornsawan Nonthapha - một chàng rể của Đất Vua - đến thăm nhà tôi tại Gò Sành (khu vực Phụ Quang, phường Nhơn Hòa; giờ là phường An Nhơn Nam), khi tôi đọc hai câu thơ của thi sĩ Yến Lan “Lắc chiếc lọ sành còn rượu nhín/ Vọng lên đỉnh núi cụng vài ly” - ngay sau khi nghe vợ dịch sang tiếng Thái, anh Pornsawan Nonthapha vô cùng thích thú.
Thưởng rượu Bàu Đá được rót vào chiếc ly gốm nhỏ do chính tay anh Pornsawan Nonthapha chế tác bằng công thức men gốm tương đồng với chất men của gốm cổ Gò Sành, phải nói rằng, rượu như được ươm tẩm thêm gia vị của thời gian, khiến ai cũng xúc động. TS Pornsawan Nonthapha nói, gốm Gò Sành là một kho báu, và rượu Bàu Đá cũng thế, chính những thứ như này đã làm nên hồn xứ sở một vùng đất. Anh còn gợi ý: “Nếu có sự kết hợp nào giữa gốm, rượu và không gian làng quê xưa, thì hay biết mấy…”.
Danh tửu Bàu Đá đã quá quen thuộc với thập khách xa gần. Nhớ đợt tôi đi trại viết của Tạp chí Văn nghệ Quân đội vào giữa năm nay ở Bà Rịa - Vũng Tàu, nhà văn Thái Chí Thanh - Chủ tịch Hội đồng Văn học thiếu nhi thuộc Hội Nhà văn Việt Nam và nhà văn Trung Sỹ - người gắn liền với tác phẩm Chuyện lính Tây Nam, đã khước từ mọi thứ rượu ngoại, rượu ngâm để mê mẩn với Bàu Đá. Nhà văn Trung Sỹ nói gọn: “Chúng tôi mê loại rượu này. Đằm. Hậu vị tuyệt vời. Đầy bản sắc!”.
Thơm từ xứ sở
Trong cái se dịu của thời tiết giao mùa, những mẻ rượu được chưng cất tầm này luôn có vị riêng. Rượu trong veo. Hương nồng tuy thoáng mà bén phất ngang mùi. Vị ngọt khía nhẹ nơi đầu lưỡi. Nồng nàn mà không gắt. Hương thơm âm thầm nhưng đủ níu người từng quen với thứ men rượu của đất này.
Người làng rượu Bàu Đá hay bảo, mỗi mùa có một cái duyên riêng, nhưng khoảng thời gian giao mùa vẫn là lúc họ thích nhất để cất những mẻ rượu ngon. Có lẽ bởi khi ấy, đất đã qua nắng, lúa đã qua mùa, nước sông Côn đã đi qua bao đồng ruộng. Tất cả những thứ tưởng như bình thường ấy, qua bàn tay người nấu rượu, lại kết thành một thứ hương vị mang dấu ấn của xứ sở. Một số người thích chắt chiu những mẻ rượu chưng cất dịp này và gọi đây là vụ rượu Tết. Quả có vậy vì lẽ số rượu này khi đến tết Nguyên đán sẽ đằm thắm lắm!
Ghé những cơ sở sản xuất rượu Bàu Đá, tôi gặp anh Dương Văn Hành - Chủ cơ sở BIDIR Hoàng Long ở tổ dân phố Phụ Ngọc (phường Bình Định), cũng là Phó Chủ tịch Hiệp hội Rượu Bàu Đá Gia Lai. Căn bếp rượu của anh hôm tôi đến không chỉ có những chiếc nồi, những bếp lửa và mùi men quen thuộc của làng nghề. Giữa không gian ấy đã có thêm những thiết bị hiện đại, sáng loáng, nhưng cái hồn của nghề xưa dường như vẫn được giữ lại nguyên vẹn.
Anh Hành kể, để làm ra những mẻ rượu vừa giữ được vị đậm đà vốn có, vừa đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của người dùng, anh đã nhiều lần tìm hiểu, rồi ra tận Hà Nội tìm mua máy móc, thiết bị. Có những bộ phận phải điều chỉnh, thêm bớt cho phù hợp với cách nấu thủ công xưa cũ. Anh đầu tư hệ thống tách andehit và xử lý một số tạp chất trong rượu, từng bước đưa những yêu cầu của sản xuất hiện đại vào một nghề vốn được truyền từ đời này sang đời khác bằng kinh nghiệm.
Anh hồ hởi kể về những chuyến đi xa. Mỗi dịp festival, lễ hội hay gặp gỡ đồng hương, chiếc xe của anh thường chất đầy những chai rượu Bàu Đá do chính cơ sở mình sản xuất. Rượu theo anh đi qua những vùng đất khác, đến với bạn bè, với những người xa quê, để rồi từ một chén rượu nhỏ lại mở ra biết bao câu chuyện về quê nhà. “Cơ sở mình mới đầu tư thêm máy chiết rót, đóng chai. Mình cũng đang hoàn thiện để đưa ra sản phẩm mới là rượu sâm khỏe từ rượu Bàu Đá” - anh chia sẻ.
Những người nấu rượu hôm nay vẫn giữ cái lõi thủ công của nghề, song đã biết đưa công nghệ vào những khâu phù hợp. Từ kiểm soát và khử một số độc tố trong rượu, cải tiến quy trình ủ, bảo quản, đóng chai đến giới thiệu sản phẩm, kết nối khách hàng, bán hàng qua mạng xã hội… Câu chuyện của làng rượu đã bước ra khỏi phạm vi một xóm làng. Điện thoại thông minh giờ đây có thể trở thành một “quầy hàng” mới của người nấu rượu. Lửa vẫn đỏ trong bếp. Nhưng cách đưa rượu đi xa, đã khác…
Những ngày này, tôi về lại làng rượu Bàu Đá (thôn Cù Lâm, xã An Nhơn Tây) để sắm cho mình một ít “nước mắt quê hương”. Thăm lại cơ sở bàu đá Ba Trương của vợ chồng bà Huỳnh Thị Mỹ Dung, thấy lò rượu đang đỏ lửa. Mỗi ngày, cơ sở của bà Dung với 4 lò thủ công, nấu được 40 lít.
Chị Lê Thị Trinh, con gái bà Dung, bộc bạch: “Thông qua kênh bán hàng trên mạng, lượt khách tiếp cận về rượu Bàu Đá nhiều hơn. Có nhiều hôm, đoàn khách từ các nước Pháp, Mỹ, Nhật, New Zealand… đến thăm cơ sở, tìm hiểu nghề nấu rượu, rồi họ ở lại dùng cơm và thưởng thức rượu quê mình. Ai cũng tấm tắc. Khách càng yêu thích rượu thì bà con chúng tôi càng tự nhủ phải chăm chút chất lượng sản phẩm cho thật tốt để giữ thương hiệu nghề truyền thống”.
* * *
Đi qua những lũy tre làng, dọc sông Côn trên vùng kinh đô một thuở, nghe hương rượu thơm mùi xứ sở. Không hiểu sao, tôi cứ bâng quơ nhớ về câu nói của người bạn Thái Lan, nếu sự kết hợp sản vật kia với gốm cổ, với trầm tích kinh xưa, với không gian dọc dài sông Côn, thì “Rượu ân tình Bình Định xứ lên men” sẽ còn dư vang vô chừng…