Đó là chiếc áo được làm từ vỏ cây - chứng tích của một thời đồng bào Tây Nguyên xem rừng là nhà, là thành lũy và cũng là “kho quân trang”, vũ khí để đánh giặc.
Khoác áo rừng bước vào kháng chiến
Tròn 35 năm kể từ khi “chiếc áo” của bok (bác) Núp - người Tây Nguyên đầu tiên được phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân - được phục chế và đưa vào trưng bày, song câu chuyện về hiện vật này thì không nhiều người tường tận.
Đáng chú ý, chính bok Núp đã trực tiếp tái hiện lại chiếc áo từng gắn bó với mình trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp.
Người còn lưu giữ ký ức rõ nét nhất về hiện vật này là ông Nguyễn Quang Trung (SN 1958, trú tại 133 Hoàng Quốc Việt, phường Pleiku) - nguyên cán bộ Bảo tàng tỉnh Gia Lai - Kon Tum cũ, nay là Bảo tàng Pleiku.
Năm 1991, theo yêu cầu công tác, ông Trung trực tiếp xuống làng Stơr (xã Tơ Tung) gặp bok Núp để nhờ phục chế những hiện vật gắn với cuộc kháng chiến của dân làng. Qua câu chuyện với ông và qua một số tư liệu, từng chi tiết lịch sử của một thời kỳ được gợi mở, tựa những nét vẽ ngời lên dưới đèn.
Trong những năm tháng kháng chiến chống Pháp, cơm chưa đủ ăn, áo chưa đủ mặc, đồng bào Tây Nguyên đã có lúc phải lấy lá cây làm chiếu, phải dùng củ - cây - dây - lá của rừng để thay cơm.
Đến hạt muối cũng thiếu thốn, buộc bà con phải đốt cỏ tranh lấy tro để tìm vị mặn. Nhưng dù khó khăn, gian khổ đến đâu, Anh hùng Núp và người dân làng Stơr vẫn một lòng theo Đảng đến cùng.
Trong sự thích nghi cao độ với hoàn cảnh, bok Núp và bà con nơi đây đã dùng nguyên liệu từ rừng để “may” áo, đó là lấy những mảng vỏ cây lớn đập mềm từng thớ ra thành một tấm “vải”, sau đó khoét phần cổ và tay áo. Từ nách áo xuống thân áo được bện lại khéo léo bằng dây mây.
Loại “áo” đặc biệt này đã gắn bó với bok Núp suốt quãng thời gian hoạt động cách mạng giai đoạn 1941-1954.
Khi tập kết ra Bắc năm 1954, bok Núp gửi lại chiếc áo vỏ cây cho gia đình cất giữ, song hiện vật đã thất lạc trong chiến tranh ác liệt.
Ông Trung nhớ lại: Thời điểm Bảo tàng nhờ làm lại chiếc áo bằng vỏ cây để trưng bày, bok Núp đã quay về sinh sống tại làng Stơr.
Đường về làng xa ngái. Sáng sớm, từ Pleiku, chiếc xe đò xuống đến ngã ba Tơ Tung thì trời đã đứng bóng. Từ đây, ông và các đồng nghiệp lội bộ đường đất thêm vài tiếng đồng hồ mới vào đến nơi.
Khi biết ý định nhờ phục chế, bok Núp - lúc ấy 77 tuổi nhưng còn khá khỏe khoắn - đã cùng người cháu trai nhận lời chẳng nề hà. Kết quả, hiện vật được hoàn thiện đúng như cái cách mà bok đã làm từ nửa thế kỷ trước. Không chỉ phục chế chiếc áo, bok còn tận tình hướng dẫn làm lại chông treo, bẫy đá và nhiều loại vũ khí thô sơ từng giúp làng đánh đuổi giặc Pháp, giữ đất giữ làng.
Khi cùng chúng tôi nhìn ngắm lại từng thớ “vải” gồ lên trên chiếc áo thô sần đậm màu hoài niệm, ông Trung chia sẻ niềm tiếc nuối khi ngày đó quên hỏi tên loài cây được róc vỏ làm áo.
Nhưng có hề gì khi hiện vật vẫn chuyển tải vẹn nguyên tinh thần của những con người từng khoác lên mình tấm áo ấy. Và đó là cách một hiện vật tiếp cận cảm xúc người xem, từ những rung động sâu xa nhất.
Bok Núp, người con của làng
Trò chuyện với tôi, ông Vũ Ngọc Bình - nguyên Giám đốc Sở Văn hóa - Thông tin Gia Lai (nay là Sở Văn hóa - Thể thao và Du lịch) cũng nhắc lại khoảng thời gian tranh thủ bok Núp còn đủ sức khỏe để nhờ hướng dẫn cách phục chế những loại vũ khí từng khiến kẻ thù khiếp sợ.
Xem rừng là nơi nương tựa tự bao đời, những cư dân của văn minh làng rừng biết tạo ra từ đây vô số cung tên, bẫy đá, hầm chông, chông treo… để bảo vệ buôn làng.
Nắm trong tay những vũ khí đơn giản, tự làm, dân làng Stơr vẫn dám đánh giặc và thắng giặc. Chính vì vậy, những hiện vật ấy xứng đáng được tái hiện. “Càng ý nghĩa hơn khi chúng được chính người anh hùng bước ra từ cuộc chiến hỗ trợ phục chế” - ông Bình nhận xét.
Kể thêm ấn tượng về bok Núp, nguyên Giám đốc Sở Văn hóa - Thông tin phác họa những đường nét thật chân phương, gần gũi. Ông nhận định: Tuy là con người mà tên tuổi đã trở thành huyền thoại, từng kết nghĩa anh em với vị lãnh tụ của cách mạng Cuba Fidel Castro, song trong sâu thẳm bok Núp luôn xem mình là người của làng, không thể tách rời khỏi làng.
Kinh qua nhiều vị trí công tác quan trọng, được Nhà nước xây nhà ở kiên cố nhưng cuối đời bok lại về Stơr dựng ngôi nhà sàn nhỏ để vào ra. “Đi đâu rồi bác cũng về với làng thôi” - ông Bình nói.
Chia sẻ cảm nhận tương tự, ông Trung kể về những lần chứng kiến bok Núp cần mẫn theo cách vui thú trên rẫy mì, rẫy lúa hoặc ra bờ suối bắt cá. Trong ký ức của ông, bok Núp là người anh hùng hết sức bình dị và yêu lao động. Có lẽ, sau mọi vinh quang, mong ước của bok chỉ là trở về để được làm một người con của làng theo nghĩa đơn sơ nhất.
Đây cũng là điều mà nhà văn Trung Trung Đỉnh từng xác nhận trong một bài viết về bok: “Hình tượng Anh hùng Núp mà bấy lâu chúng tôi yêu mến, hâm mộ và giờ đây được ở chung càng trở nên sống động, nhất là khi tiếp xúc với ông - một đe anhong Núp (ông anh Núp, tiếng Bahnar) bằng xương, bằng thịt, không hề có vẻ gì của một người anh hùng với thái độ bề trên”.
Năm 1999, bok Núp thanh thản về với thế giới người hiền. Trong khi những hình ảnh, hiện vật sưu tầm liên quan đến bok ngày một dày thêm thì cách đây 3 năm, Bảo tàng Pleiku tiếp tục bắt tay thực hiện mô hình phục dựng Làng kháng chiến Stơr trong khuôn viên của đơn vị.
Mô hình sống động, vừa diễn tả khung cảnh của một ngôi làng Bahnar điển hình với nhà rông, nhà sàn, kho thóc… vừa kín đáo bày ra thế trận phòng thủ với vũ khí giăng trên tán cây, bên bờ suối Ktung. Sự hài hòa giữa lối trưng bày trong nhà kết hợp tái hiện không gian ngoài trời mang đến một trải nghiệm trọn vẹn về cảm xúc.
Nếu mô hình làng kháng chiến giúp người xem hình dung rõ hơn về không gian của một thời đồng bào Tây Nguyên đánh giặc thì chiếc áo vỏ cây kể câu chuyện về một con người, một thế hệ đã lấy ý chí làm điểm tựa để vượt lên mọi khó khổ, thiếu thốn.
Chúng tôi nghĩ đến sự phai lãng khi chứng kiến thời gian đã chẳng ngại ngần mài mòn từng chi tiết trong hồi ức mỗi con người. Nhưng với Anh hùng Núp thì ngược lại.
Từ hình ảnh người thanh niên tự mình phát hiện chân lý “bắn Pháp chảy máu”, người thủ lĩnh của buôn làng cho đến chân dung một cụ già như tiên ông với đôi mắt biết cười sẽ mãi được khắc nhớ như một huyền thoại.
Chừng nào những hiện vật quý còn được gìn giữ, chừng đó Anh hùng Núp vẫn sống trong câu chuyện của các thế hệ mai sau.