Mưu sinh truyền đời ở Chợ Lớn - Kỳ 5: Những thợ bạc danh tiếng

Theo dõi Báo Gia Lai trên Google News

Nhà văn Sơn Nam từng hóm hỉnh: "Là nhà văn thì phải chấp nhận nghèo, nếu viết văn để làm giàu thì ở Sài Gòn, dân Chợ Lớn làm hết rồi, không tới mình đâu". Tất nhiên, "ông già Nam bộ" chỉ nói đùa nhưng chuyện dân Chợ Lớn làm đủ mọi ngành nghề và đều ăn nên làm ra là có thật. Trong đó có nghề thợ bạc.

LỬA THỬ VÀNG, VÀNG THỬ… TÂM THỢ BẠC

Ngày nay, dấu xưa của nghề thợ bạc Chợ Lớn vẫn còn lưu giữ ở những tiệm gia truyền hiếm hoi sót lại trước cổng chợ An Đông (Q.5, TP.HCM). Cũng ít ai biết về Hội quán Lệ Châu, nằm gần cuối đường Trần Hưng Đạo và là tổ đình đầu tiên của nghề thợ bạc Việt Nam từ thời phong kiến. Nhiều người lái xe chạy ngang hằng ngày nhưng không để ý đến sự tồn tại của nó, bởi khác với những ngôi chùa nổi tiếng và cầu kỳ về kiến trúc ở khu Chợ Lớn, ngôi đình một tầng này thường đóng cửa.

Hội quán Lệ Châu hiếm khi mở cửa thường nhật
Hội quán Lệ Châu hiếm khi mở cửa thường nhật

Chúng tôi tìm đến Hội quán Lệ Châu và được người giữ đình là ông Trần Văn Tư, 79 tuổi, "phá lệ" mở cửa đón tiếp. Ông vừa là một thợ bạc nổi tiếng thuộc thế hệ thứ tư tiếp nối nghề truyền thống của gia đình vừa giữ hương khói cho các vị tổ sư trong hội quán. Nhờ đó, ông có các tài liệu quý về nghề thợ bạc Việt Nam cũng như biết nhiều giai thoại thú vị.

"Tay nghề của thợ bạc được đánh giá theo 7 bậc nhưng trong nghề này, hiếm ai lên được bậc 7. Vì để đạt được thứ bậc đó, một thợ bạc phải rành cả 7 môn: làm đồ chạm, đồ trơn, đồ xi mạ, đồ đậu, đồ phân kim, đồ bọng, đồ hột. Trong gia đình tôi từ thời ông cố tới nay cũng chưa có ai làm được cả 7 món đó", ông Tư cho biết.

Hội quán Lệ Châu thưở mới được xây cất
Hội quán Lệ Châu thưở mới được xây cất

Ông Tư vào nghề năm 1963, khi ấy các chành vàng (chành - tiệm lớn) ở Sài Gòn - Chợ Lớn buôn bán "rất sung". Ông học nghề từ cha là ông Trần Văn Hai, một thợ bạc làm nghề từ thời Pháp thuộc. Ông Tư kể: "Ba tôi học nghề từ ông nội, còn ông cố tôi theo nghề từ thời phong kiến. Xưa, miền Nam có mấy chành vàng lớn, họ giàu, có vốn lớn nên thường nhập vàng nguyên liệu về rồi giao cho các thợ bạc làm. Nghề thợ bạc thời ấy nhờ vậy mà thịnh lắm. Ba tôi có lúc dạy mấy chục thợ bạc ra nghề. Riêng nhà tôi cũng có 3 anh em trai cùng nối nghề ba. Giờ 2 ông anh mất rồi, tôi chỉ có một cô con gái lại không ham theo nghề này".

Ông Trần Văn Tư, người thợ bạc ở tổ đình nghề bạc Việt Nam
Ông Trần Văn Tư, người thợ bạc ở tổ đình nghề bạc Việt Nam

Nhớ lại một thời sung túc của nghề, ông Tư nói người ta hay kêu "thợ bạc khét tiếng", thực ra là tai tiếng - ăn chơi "thấu trời ông địa". Theo lời ông Tư, thuở đó, thợ bạc làm được một cái cà rá (nhẫn trơn) là ăn 1 - 2 phân vàng, nhờ có nghề phân kim nên họ biết cách làm hao hụt vàng mà hưởng lợi. Có tiền rồi, thợ bạc đến khu Đại thế giới đánh bài, đi cá ngựa, đi ăn nhậu. Có khi vì thua trắng mà không trả vàng cho khách được, thế là mất uy tín, mất nghề.

Ông Trần Văn Tư (trái) và anh La Hưng, một thợ bạc ở TP.HCM
Ông Trần Văn Tư (trái) và anh La Hưng, một thợ bạc ở TP.HCM

"Cha tôi luôn dạy anh em tôi phải nhìn đó mà học, muốn giữ nghề thì phải làm ăn đàng hoàng, nhất là chịu khó. Gia đình tôi thường làm dây chuyền nhiều kiểu, rồi cà rá… Khó thì học từ từ, món nào khó quá có khi phải làm vài ngày, dễ thì trong ngày. Nhẫn trơn làm nhanh, ngày có lúc làm vài chục chiếc, nhẫn tam cấp phải làm 2 ngày, nhẫn yên ngựa mấy ông xì thẩu (ông chủ) người Tàu khoái đeo thì lâu hơn chút nhưng được cái mấy ổng trả công cũng hậu. Nhờ mình thiệt thà không phân kim làm hao hụt vàng người ta nên mấy chành vàng tin tưởng giao cho anh em tôi làm nhiều", ông Tư kể.

Các thế hệ thợ bạc miền Nam
Các thế hệ thợ bạc miền Nam

VÀNG SÀI GÒN - CHỢ LỚN BÁN KHẮP XỨ ĐÔNG DƯƠNG

Sau năm 1954, người Pháp không còn hiện diện ở miền Nam, việc sản xuất và mua bán vàng được chính quyền Sài Gòn cho hoạt động dưới sự coi sóc của Nghiệp đoàn vàng miền Nam Việt Nam - đại diện cho các chành vàng và là cầu nối với chính quyền. Những tiệm vàng nổi danh trước năm 1975 hầu hết do người Hoa sở hữu ở Chợ Lớn. Có thể kể ra như vàng miếng hiệu Kim Thành với 5 loại núi lớn, núi nhỏ, núi trung, núi trơn, núi sọc để phân theo giá và chất lượng vàng.

Một số trang sức do thợ bạc mang đến Hội quán Lệ Châu trưng bày
Một số trang sức do thợ bạc mang đến Hội quán Lệ Châu trưng bày

"Vàng Kim Thành thời đó có mẫu núi lớn giống vàng SJC bây giờ, đủ 4 số 9. Các món còn lại có khi chỉ 3 số 9 hay ít hơn thì giá rẻ hơn", anh H.L, một nhà sưu tầm vàng và cũng là thợ bạc ở TP.HCM, chia sẻ.

Vàng lá Kim Thành trước năm 1975
Vàng lá Kim Thành trước năm 1975
Hóa đơn mua bán vàng Kim Thành, lưu hành tại vùng Đông Dương trước năm 1975
Hóa đơn mua bán vàng Kim Thành, lưu hành tại vùng Đông Dương trước năm 1975
Vàng lá Kim Phong có hình con voi trước năm 1975
Vàng lá Kim Phong có hình con voi trước năm 1975
Vàng lá hình con sư tử (Lion) trước năm 1975
Vàng lá hình con sư tử (Lion) trước năm 1975

Ông Trần Văn Tư cũng nhắc tới các nhãn hiệu vàng thời bấy giờ được ưa chuộng như hiệu Thái Sơn với miếng vàng lá có hình con nai, Thái Tài, Minh Phát, Lion… nổi lên khắp xứ Đông Dương thời kỳ từ 1957 - 1975 ở miền Nam. Tuy nhiên, các chành vàng khi đó cũng phân rõ việc sản xuất và mua bán vàng. Chỉ có một số chành vàng như hiệu Kim Thành, Kim Phong, Thái Sơn, Thái Tài, Kim Tính… là vừa được sản xuất vừa buôn bán. Còn các tiệm khác như chành vàng VN của ông Tư Đắc, chành hiệu Kim Ánh… thì mua bán vàng miếng số 1 ở Sài Gòn - Chợ Lớn nhưng lại không được gia công, sản xuất.

Tiệm thợ bạc trước cổng chợ An Đông ngày nay
Tiệm thợ bạc trước cổng chợ An Đông ngày nay

Ông Tư kể thêm: "Vai trò của nghiệp đoàn lớn lắm. Như việc họ cấm thợ bạc phân kim làm hao hụt vàng của người dân. Ai mà cố tình làm gian là bị phạt tiền, rút giấy phép hành nghề, công bố công khai làm người dân không tin tưởng để đến làm ăn. Nên sau này hầu hết việc gia công, buôn bán rất quy củ. Có lẽ nhờ vậy mà vàng miền Nam Việt Nam thời đó được buôn bán hợp pháp, giao thương khắp nơi từ Sài Gòn đến Hồng Kông, Campuchia, Singapore… Nghiệp đoàn quản lý cả việc sản xuất, mua bán vàng. Nếu chành nào cần vàng nguyên liệu thì đăng ký với nghiệp đoàn, với chính quyền rồi mua vàng về sản xuất và đóng thuế, sau đó buôn bán cạnh tranh. Lúc đó Kim Thành được ưa chuộng nhất theo phương châm ai làm ngon lành nhất thì được dân chọn, còn anh làm ăn gian, hạ tuổi vàng thì người ta quay lưng, không ghé tiệm mua nữa".

Thợ bạc làm việc trong tiệm Võ Điền, chợ An Đông
Thợ bạc làm việc trong tiệm Võ Điền, chợ An Đông

Sau năm 1975, vàng miếng còn lại chủ yếu là từ các chành vàng khi trước để lại, các tiệm vàng thời bao cấp không được sản xuất vàng mới. Mãi đến 1986, nhà nước mới quản lý vàng và cho sản xuất lại. Tại TP.HCM có thương hiệu vàng SJC (Saigon Jewelry Company - Công ty vàng bạc đá quý Sài Gòn) rất nổi tiếng, sau này SJC trở thành thương hiệu vàng quốc gia Việt Nam, do nhà nước quản lý.

(còn tiếp)

Theo Lê Vân (TNO)

Có thể bạn quan tâm

'Bóng ma đồ độc' ám ảnh vùng cao Quảng Ngãi

'Bóng ma đồ độc' ám ảnh vùng cao Quảng Ngãi

Ở một số bản làng miền núi Quảng Ngãi, hủ tục nghi kỵ “cầm đồ thuốc độc” vẫn âm ỉ tồn tại, len vào những mâu thuẫn đời thường, những cơn bệnh chưa được lý giải bằng khoa học. Từ một lời phán của thầy cúng, hàng xóm có thể thành kẻ thù, người vô tội bị cô lập, đánh đập, thậm chí mất mạng.

Trường mới ở vùng biên

Trường mới ở vùng biên

(GLO)- Gần một tháng sau lễ khai giảng năm học 2026 - 2027, thầy và trò tại 7 trường phổ thông nội trú Tiểu học và THCS trên tuyến biên giới của tỉnh Gia Lai đang từng bước ổn định nền nếp dạy học.

Những ngày ở xứ Kim Chi: Kỳ 2: 24 giờ ở Jeonju - thủ phủ của Jeollabuk-do

Những ngày ở xứ Kim Chi: Kỳ 2: 24 giờ ở Jeonju - thủ phủ của Jeollabuk-do

(GLO)- Hai lần đổi tàu với gần 3 giờ từ Busan đưa chúng tôi đến Jeonju - thủ phủ và là thành phố cổ yên bình của tỉnh Jeollabuk-do. 24 giờ ở đây đủ để nhận ra sức hấp dẫn của một vùng đất biết giữ gìn ký ức, chăm chút từng góc phố và biến những giá trị truyền thống thành sức hút du lịch.

Đất Vua xứ Rượu…

Đất Vua xứ Rượu…

(GLO)- Những ngày đầu thu, khi cái nắng miền Trung đã bớt gay gắt, những cơn mưa bắt đầu ghé qua nhiều hơn, đất trời xứ An Nhơn cũng dịu lại. Lúc đầy lúc vơi, sông Côn vẫn lặng lẽ chảy qua những xóm làng, mang theo phù sa và câu chuyện của một vùng đất từng là kinh đô. 

Món quà nhỏ nối dài lòng tốt

Món quà nhỏ nối dài lòng tốt

Mỗi lần nấu cơm cho gia đình, chị Trương Thị Phượng lại chuẩn bị thêm một, hai suất. Hôm nay, trong những chiếc hộp được xếp ngay ngắn là cơm trắng, khoai tây xào, gà xào và canh nóng. Chị chụp lại phần cơm, đăng lên nhóm “Cho tặng đồ miễn phí tại Hà Nội”, rồi chờ người cần đến nhận.

Nghề xưa vẫn chảy bên dòng sông Côn

Nghề xưa vẫn chảy bên dòng sông Côn

(GLO)- Bên dòng sông Côn, đoạn chảy qua thôn Kiên Mỹ (xã Tây Sơn, tỉnh Gia Lai) từ lâu đã hình thành những xóm nghề gắn với đời sống người dân như làm đậu khuôn, giá đỗ, bún, bánh tráng, các loại bánh truyền thống, trồng rau... 

Lộ Diêu vươn mình từ gian khó

Lộ Diêu vươn mình từ gian khó

(GLO)- Trước đây, Lộ Diêu (phường Hoài Nhơn Đông) như một thế giới tách biệt với bên ngoài. Ðặc trưng địa hình và cuộc sống của người dân nơi đây được đúc kết qua câu: “Lộ Diêu một biển ba đèo - Gian nan đã vượt, khó nghèo đã qua”.

Làng xưa nay đã đổi thay

Làng xưa nay đã đổi thay

(GLO)- Sau khi về định cư ở vùng đất mới, cuộc sống của người dân 4 làng Plei Pông, Kinh Pêng, Plei Trớ và Plei Hek thuộc xã Chư A Thai (là các làng căn cứ cách mạng trong 2 cuộc kháng chiến chống Pháp và Mỹ, còn gọi là 4 làng Ðồn) đã có nhiều đổi thay rõ nét.

Mang con dấu đến bản

Mang con dấu đến bản

Hai đứa con đã 15 và 13 tuổi, nhưng lần đầu tiên, vợ chồng anh Moong Văn Phong mới đi làm khai sinh cho con khi Trung tâm Phục vụ hành chính công xã Nhôn Mai (Nghệ An) mang con dấu đến tận bản để làm thủ tục cho dân.

Những dáng lính vùng biên

Những dáng lính vùng biên

(GLO)- Tôi gặp những người lính trên những chuyến tàu tuần tra ngoài khơi xa, giữa những hải trình dọc dài duyên hải đồng hành, làm chỗ dựa bảo vệ ngư dân và giữ gìn an ninh trật tự trên biển quê hương; gặp họ giữa những vùng biên giới Campuchia heo hút đầy nắng gió.

null