Giữ mãi ngọn lửa hồng cách mạng

Theo dõi Báo Gia Lai trên Google News

(GLO)- Cuộc trò chuyện với hai nhân chứng sống - ông Hoàng Văn Tuyển và bà Huỳnh Thị Kim Xuyên đã đưa chúng ta trở lại những năm tháng kháng chiến đầy gian khổ, nơi tinh thần yêu nước và khát vọng cống hiến đã viết nên những trang đời đáng nhớ.

Người "giữ lửa" ở vùng đất tuyến đầu

Ông Hoàng Văn Tuyển (SN 1947, xã Tuy Phước) nguyên là Bí thư Đảng ủy xã Phước Sơn cũ, nguyên Chính trị viên Huyện đội Tuy Phước. Từ một thiếu niên tham gia cách mạng, ông từng bước trưởng thành, trở thành cán bộ chủ chốt, góp phần tổ chức, giữ vững phong trào cách mạng trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ.

21.jpg
Ông Hoàng Văn Tuyển bồi hồi nhớ lại một thời đạn bom. Ảnh: T.K

● Thưa ông, trong hoàn cảnh quê hương còn chìm trong khói lửa, điều gì đã thôi thúc một cậu bé như ông dấn bước theo cách mạng?

- Tôi sinh ra và lớn lên ở xã Phước Sơn - vùng quê giàu truyền thống cách mạng nhưng cũng từng hứng chịu nhiều đau thương, mất mát trong chiến tranh. Năm 1960, khi mới 13 tuổi, tôi tận mắt chứng kiến cảnh dân làng bị địch đàn áp, có người bị đưa ra chém giữa ban ngày. Có lần, chúng kéo cả máy chém về hành quyết giữa chợ để thị uy. Khi ấy, tôi chỉ là một đứa trẻ, nhưng những hình ảnh đó hằn sâu trong ký ức, không thể nào quên.

Điều khiến tôi khâm phục hơn cả là sự gan góc của những cán bộ cách mạng, họ vẫn kiên trì hoạt động giữa vùng tạm chiếm. Tôi nhớ mãi hình ảnh đồng chí Nguyễn Thành Long - Bí thư Đảng ủy xã, bị bắt mà vẫn hiên ngang, ngẩng cao đầu ném tàn thuốc vào mặt địch, không chút sợ hãi.

Đến tháng 8-1964, khi xã giải phóng được một số thôn phía Đông, tôi bắt đầu tham gia đội thiếu niên. Phong trào cách mạng lúc ấy phát triển mạnh, không khí trong làng rộn ràng, ai cũng tin vào ngày mai.

● Có giai đoạn ông bị địch bắt, rồi trở lại hoạt động bí mật. Điều gì giúp ông không khuất phục trước gian lao và tiếp tục bám trụ giữa lòng địch?

- Năm 1966, khi Mỹ đổ bộ vào miền Nam, Bình Định trở thành địa bàn trọng điểm. Phước Sơn bị đánh phá dữ dội. Một tiểu đoàn lính Mỹ tràn vào, dùng cả chất độc hóa học để tiêu diệt hầm trú ẩn ở thôn Vinh Quang, khiến hàng chục người dân thiệt mạng, trong đó có gia đình 7 người không còn ai sống sót. Còn tôi thì bị bắt trong một đợt càn quét.

Cuối năm ấy, tôi tìm cách móc nối lại với cơ sở cách mạng. Đến năm 1967 thì được giao nhiệm vụ làm Tổ trưởng tổ du kích mật thôn Dương Thiện. Tôi đưa đội công tác về ở tại nhà, đào thêm hầm bí mật. Cuối năm 1967, tôi thoát ly, tham gia đội công tác xã, làm du kích rồi được phân công làm Xã đội phó. Đến tháng 3-1968 thì giữ chức Xã đội trưởng. Không lâu sau đó, địch mở cuộc càn lớn. Đơn vị Mãnh Hổ - lực lượng thiện chiến của Mỹ phối hợp với quân ngụy bao vây xã, truy bắt ráo riết.

Hôm ấy, tôi cùng đồng chí Xã đội phó ẩn nấp trong chùa Lộc Thượng thì bị phát hiện. Tình thế ngặt nghèo, không còn đường lui, chúng tôi quyết định dùng lựu đạn đánh lạc hướng, ném ngói cản bước truy đuổi rồi lội sông, vượt đồng thoát thân. Đó là một trong những trận càn cam go nhất mà tôi từng trải qua.

Tham gia cách mạng, hiểm nguy luôn rình rập, nói không sợ là nói dối, nhưng chính lòng tin vào cách mạng, vào Đảng đã giúp tôi và đồng đội vượt qua tất cả.

● Nhìn lại chặng đường giữ vững phong trào cách mạng ở Phước Sơn, điều gì khiến ông nhớ và tự hào nhất?

- Cuối năm 1968, sau cuộc càn, phong trào cách mạng ở Phước Sơn gần như bị đánh bật, trở thành “vùng trắng”. Ngay cả Bí thư Huyện ủy cũng bị bắt. Nhưng Huyện ủy không để địa phương bị bỏ trống lâu.

Đồng chí Trần Bản được điều về làm Bí thư xã, chỉ đạo khôi phục lại phong trào. Năm 1969, xã thành lập được hai đội công tác, tôi được giao nhiệm vụ Bí thư Đảng ủy. Giai đoạn ấy, rất nhiều người dân, tăng ni đã tham gia hỗ trợ cách mạng bằng cách nuôi giấu cán bộ, tiếp tế, giữ liên lạc. Nhờ sự đồng lòng đó, Phước Sơn từng bước khôi phục phong trào, mở rộng vùng giải phóng.

Đến năm 1972, xã làm chủ được 2/3 địa bàn. Phước Sơn lúc này đóng vai trò là đầu mối kết nối giữa khu Trung và khu Nam Tuy Phước, hỗ trợ cho hoạt động của cả huyện. Đó là điều tôi luôn tự hào - rằng chúng tôi đã không để ngọn lửa cách mạng tắt đi, dù có lúc chỉ là một đốm nhỏ.

Vững tinh thần “xung phong”

Ở tuổi 74, bà Huỳnh Thị Kim Xuyên - cựu thanh niên xung phong (TNXP), thương binh 21%, vẫn giữ dáng đi nhanh nhẹn, giọng nói dứt khoát và tinh thần nhiệt huyết. Gần 30 năm qua, bà âm thầm góp sức bảo vệ công lý, hỗ trợ người dân, đặc biệt là người yếu thế.

23.jpg
Huy hiệu 55 năm tuổi Đảng được nhận vào đầu năm 2025 là niềm tự hào của bà Huỳnh Thị Kim Xuyên. Ảnh: N.M

● Thưa bà, sinh ra và lớn lên trong bối cảnh chiến tranh, ký ức nào thời ấy là không thể nào quên?

- Tôi sinh ra ở xã Hoài Hảo, TX Hoài Nhơn cũ, nay là phường Hoài Nhơn Tây. Mẹ mất khi tôi mới 1 tuổi, cha qua đời lúc tôi vừa tròn 12. Tuổi thơ tôi lớn lên giữa tiếng bom, tiếng khóc và sự chia ly. Tôi từng chứng kiến các chú, các anh mình bị địch tra tấn, đánh đập tàn bạo. Địch còn dùng chính thân thể người thân tôi để răn đe dân lành, nhằm làm nhụt chí cách mạng.

Tôi có một người chú tập kết ra Bắc. Khi ông nội mất, chú không thể về. Trước lúc nhắm mắt, ông vẫn gọi tên chú - tiếng gọi thắt tim mà tôi không thể nào quên.

Chính những điều đó đã gieo vào tôi một khát vọng mãnh liệt về hòa bình, về một đất nước không còn chia cắt. Nghe các cô chú binh vận tuyên truyền, tôi chưa tròn 16 tuổi đã nhất quyết thoát ly, đi theo cách mạng.

● Ngày mới thoát ly, hẳn bà gặp không ít thử thách…

- Khi trở thành TNXP, tôi được giao mang đạn, tải thương, cõng gạo, phục vụ tiền tuyến. Với người khác, đó có thể là việc nhỏ, nhưng với một cô bé vừa rời nhà, chân ướt chân ráo bước vào kháng chiến, đó là một vinh dự lớn lao.

Tôi còn nhớ rõ cảm giác lần đầu vác 5 kg gạo leo núi. Mới đi được nửa núi đã thở dốc, chân run rẩy, một anh trong đơn vị đã hỗ trợ tôi đoạn đường còn lại. Tôi có thể mệt, có thể sợ, nhưng không khóc, cũng không than, chỉ tự nhủ phải cố gắng hơn.

Về sau, tôi - đứa nhỏ chỉ nặng 36 kg có thể gùi đến 40 kg đạn từ núi về đồng bằng, vác bao gạo 28 kg lên rừng như một điều bình thường. Có lẽ vì khi ấy, trong lòng tôi chỉ có một suy nghĩ duy nhất: Mình đang góp một phần nhỏ cho Tổ quốc. Vậy là đủ để không chùn bước.

● Khi đất nước thống nhất, cuộc sống còn ngổn ngang khó khăn, điều gì thôi thúc bà kiên trì theo đuổi việc học?

- Sau giải phóng, tôi được phân công về công tác tại Ty Giao thông dù mới học hết lớp 2. Vừa làm việc, vừa nuôi hai con nhỏ, nhưng tôi luôn canh cánh chuyện học hành. Tôi nghĩ, học không chỉ để mở mang tri thức mà còn giúp mình làm việc tốt hơn. Cả tôi và chồng đều đăng ký học bổ túc.

Năm 1984, chồng tôi lâm bệnh nặng. Dù đang yếu, anh vẫn động viên tôi đi học. Năm đó anh mất, tôi đi thi tốt nghiệp THPT nhưng không đậu, phải năm sau thi lại mới đậu - một chiến thắng tinh thần, cũng là lời hứa tôi giữ trọn với anh.

Đến năm 1991, tôi tiếp tục học đại học Luật. Là người từng ra trận, từng bị thương, sau này làm công tác hành chính, tôi thấu hiểu người dân, nhất là người yếu thế thiệt thòi ra sao khi thiếu hiểu biết pháp luật. Tôi học luật để điều chỉnh mình, để có thể giúp họ thêm tiếng nói, chỗ dựa.

Gần 30 năm gắn với ngành Luật, điều làm nên động lực với tôi vẫn là sự tin cậy, niềm hạnh phúc của những người yếu thế, những món quà mộc mạc nhưng đầy tình cảm như ràng bánh tráng, trái cây nhà trồng… sau phiên xử.

● Ngoài công tác chuyên môn, bà còn rất tích cực trong công tác thiện nguyện?

- Từ khi làm Bí thư Chi bộ khu phố 5, phường Trần Hưng Đạo (TP Quy Nhơn cũ), tôi đã phối hợp với Hội LHPN phường tổ chức đóng góp quỹ làm thiện nguyện. Ban đầu là nấu cơm cho bệnh nhân chạy thận, ung thư; sau chuyển sang đồng hành cùng Hội Nạn nhân chất độc da cam/dioxin tỉnh. Gần 10 năm qua, chúng tôi vẫn thường xuyên tổ chức chuyến thăm đến với các gia đình nạn nhân chất độc da cam có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn. Bản thân tôi cũng tham gia vận động xây dựng 3 căn nhà cho đồng đội, người nghèo.

Tôi không có gì lớn lao, chỉ luôn nhắc bản thân: Được đứng trong hàng ngũ của Đảng, được cống hiến cho người dân, cho công lý, đó là hạnh phúc.

● Chân thành cảm ơn ông và bà! Chúc ông và bà nhiều sức khỏe và tiếp tục đóng góp cho quê hương, đất nước!

Có thể bạn quan tâm

Về lại ga xép

Về lại ga xép

Tôi đã cố cưỡng lại sự mời gọi của chuyến food tour (du lịch ẩm thực) tại trung tâm thành phố Hải Phòng (cũ) để xuống tàu sớm hơn ba ga.

Ngày mới bên sông Pô Cô

E-magazine Ngày mới bên sông Pô Cô

(GLO)- Sớm mai ở Ia Krái, dòng Pô Cô uốn lượn như dải lụa bạc giữa mênh mông cây cối. Nước sông lăn tăn, gợn sóng nhỏ vỗ vào bãi cát vàng, len qua vườn rẫy, tạo thành một bản hòa ca của thiên nhiên và con người.

Giữ cây thuốc quý giữa đại ngàn An Toàn

Giữ cây thuốc quý giữa đại ngàn An Toàn

(GLO)- Tự xa xưa người Bahnar ở đại ngàn An Toàn (tỉnh Gia Lai) đã biết sử dụng nhiều loài cây rừng để làm thuốc chữa bệnh. Kinh nghiệm được chắt lọc qua nhiều thế hệ, không chỉ chăm sóc sức khỏe cộng đồng mà còn thể hiện sự am hiểu sâu sắc về tự nhiên, góp phần gìn giữ giá trị y học dân gian.

Xây dựng thế trận lòng dân nơi tà đạo "Hà Mòn" đi qua - Kỳ cuối: Xây dựng thế trận lòng dân- tường lửa ngăn tà đạo

E-magazine Xây dựng thế trận lòng dân nơi tà đạo "Hà Mòn" đi qua - Kỳ cuối: Xây dựng thế trận lòng dân- tường lửa ngăn tà đạo

(GLO)- Ba đối tượng cốt cán cuối cùng của tà đạo “Hà Mòn” bị bắt giữ tại khu vực núi Jơ Mông (giáp ranh xã Hra và xã Lơ Pang) vào ngày 19-3-2020 đã đánh dấu bước ngoặt quan trọng, khép lại hành trình đấu tranh kéo dài hơn một thập kỷ.

'Sói biển' Lý Sơn và hành trình nối biển ra Hoàng Sa

'Sói biển' Lý Sơn và hành trình nối biển ra Hoàng Sa

Ở đặc khu Lý Sơn (Quảng Ngãi), lão ngư Dương Minh Thạnh được nhiều ngư dân gọi là “lão ngư Hoàng Sa” bởi có công “nối biển” Lý Sơn ra quần đảo Hoàng Sa. Ông còn được mệnh danh là “sói biển” Lý Sơn, bởi sức vươn khơi dẻo dai, từng 5 lần thoát chết thần kỳ giữa bão biển.

Xây dựng thế trận lòng dân nơi tà đạo "Hà Mòn" đi qua - Kỳ 3: Gieo lại niềm tin trên đất cũ

E-magazine Xây dựng thế trận lòng dân nơi tà đạo "Hà Mòn" đi qua - Kỳ 3: Gieo lại niềm tin trên đất cũ

(GLO)- Khi tà đạo “Hà Mòn” tan biến, trên những buôn làng ở xã Hra, xã Đak Pơ, niềm tin làm giàu đang được gieo lại từ chính mảnh đất cũ. Nhờ sự vào cuộc của cấp ủy, chính quyền, lực lượng chức năng cùng ý chí vươn lên của người dân, những vùng đất này đang chuyển mình mạnh mẽ. 

Những chuyện tình xuyên biên giới ở Ia O

Những chuyện tình xuyên biên giới ở Ia O

(GLO)- Trên vùng biên Ia O (tỉnh Gia Lai), dòng Pô Cô vừa là ranh giới tự nhiên, vừa là nhịp cầu kết nối lương duyên. Từ những lần qua lại thăm thân, dự lễ hội, nhiều mối tình nảy nở, hình thành nên những mái ấm xuyên biên giới bình dị, bền bỉ, góp phần dệt nên diện mạo riêng nơi phên giậu Tổ quốc.

Làng bồng bềnh trên dòng Pô Kô

Làng bồng bềnh trên dòng Pô Kô

Giữa miền biên viễn phía tây Gia Lai, trên dòng Pô Kô hùng vĩ, hàng chục gia đình từ Tây Nam bộ tìm đến lập nghiệp, dựng nên những căn nhà nổi chông chênh giữa sóng nước. Cuộc mưu sinh lặng lẽ thể hiện nghị lực của con người, ý chí bám trụ và khát vọng sống chan hòa cùng sông nước.

Bấp bênh xóm chài vùng biên

Bấp bênh xóm chài vùng biên

(GLO)- Xóm chài trên mặt hồ thủy điện Sê San (làng Tăng, xã Ia O) hiện có 17 hộ với 58 nhân khẩu, đến từ các tỉnh ở miền Đông Nam Bộ và Tây Nam Bộ. Không đất ở, thiếu giấy tờ tùy thân, họ tự dựng nhà bè, bám lấy con nước để mưu sinh.

null