Mưu sinh trên sông Trà: Săn cá bống bằng ống tre

Theo dõi Báo Gia Lai trên Google News

Dài hơn 130 km, sông Trà Khúc (còn gọi là sông Trà) bắt nguồn từ vùng cao nguyên Đăk Tơ Rôn, hợp lưu từ nhiều nhánh sông lớn nhỏ trước khi xuôi về Quảng Ngãi rồi đổ ra biển qua cửa Đại.

Dòng sông uốn lượn qua núi rừng, làng mạc, mang theo phù sa bồi đắp cho những cánh đồng ven bờ. Không chỉ là nguồn nước, sông Trà Khúc từ lâu còn được ví như "bầu sữa" nuôi sống bao thế hệ cư dân xứ Quảng, cá bống sông trà.

Những sản vật đặc trưng như cá bống, don… đã trở thành dấu ấn riêng của vùng đất này. Giữa nhịp sống hiện đại, vẫn còn đó những con người lặng lẽ mưu sinh bằng nghề cũ - đặt ống tre bắt cá bống, một nghề thủ công đã tồn tại hàng trăm năm trên dòng sông Trà.

Trà Khúc là con sông lớn nhất Quảng Ngãi. ẢNH: HẢI PHONG
Trà Khúc là con sông lớn nhất Quảng Ngãi. ẢNH: HẢI PHONG

THEO CON NƯỚC MƯU SINH

Khi trời còn tờ mờ sáng, ánh nắng đầu ngày vừa kịp nhuộm vàng mặt sông, những chiếc ghe nhỏ bắt đầu rẽ nước. Không tiếng động ồn ào, chỉ có nhịp chèo khua nhẹ và làn nước loang ra trong buổi sớm tĩnh lặng.

Trên những chiếc ghe ấy, người dân mang theo hàng chục ống tre thả xuống những đoạn sông quen thuộc - nơi họ đã "thuộc lòng" từng con nước, từng luồng cá. Nghề này không cần máy móc hiện đại, chỉ cần sự kiên trì và kinh nghiệm tích lũy qua năm tháng.

Ông Định kiểm tra bẫy bằng ống tre đặt dưới sông. ẢNH: HẢI PHONG
Ông Định kiểm tra bẫy bằng ống tre đặt dưới sông. ẢNH: HẢI PHONG

Ông Nguyễn Phan Văn Định (65 tuổi, ở tổ dân phố Liên Hiệp 2, P.Trương Quang Trọng, Quảng Ngãi) là một trong những người gắn bó lâu năm với nghề. Hơn nửa thế kỷ lênh đênh trên sông Trà, cuộc đời ông gắn liền với những ống tre và con nước lên xuống mỗi ngày.

"Mỗi ngày tôi dậy từ 4 giờ sáng, chèo ghe ra sông đặt bẫy rồi quay lại gỡ những ống đã đặt trước đó để thu cá. Nghề này không nặng nhọc, nhưng phải hiểu con nước, biết chỗ cá ở thì mới có ăn", ông Định nói.

Trên sông Trà, cá bống sinh sống khá đa dạng với các loại như bống cát, bống dừa, bống mú… Trong đó, cá bống cát được xem là ngon nhất, thịt chắc, thơm, được thị trường ưa chuộng với giá khoảng 300.000 đồng/kg. Các loại khác dao động từ 150.000 - 200.000 đồng/kg. Chính giá trị ấy khiến cá bống trở thành nguồn thu nhập quan trọng của nhiều hộ dân ven sông, dù sản lượng ngày nay không còn dồi dào như trước.

Cá bống cát có màu vàng ươm, to bằng ngón tay. ẢNH: HẢI PHONG
Cá bống cát có màu vàng ươm, to bằng ngón tay. ẢNH: HẢI PHONG

Để có được những mẻ cá bống, người làm nghề phải chuẩn bị những chiếc bẫy rất đặc biệt. Những ống tre tưởng chừng đơn giản nhưng lại chứa đựng nhiều kinh nghiệm dân gian.

CHIẾC BẪY TỪ TRE MỘC

Theo ông Định, tre dùng làm bẫy thường là tre đã qua sử dụng, được xin hoặc đổi từ người dân. Tre mới có mùi nồng, cá sẽ không vào, vì vậy phải chọn loại đã "già", thậm chí đã từng dùng qua.

Những thân tre được cưa thành từng đoạn dài khoảng 60 - 70 cm, hai đầu thông nhau. Ở giữa thân, người thợ đục một lỗ để đóng cọc dài khoảng 50 cm nhằm cố định khi cắm xuống cát, tránh bị nước cuốn trôi. "Ống tre mới thả xuống thì cá chưa vào đâu. Phải chờ 2 - 3 ngày cho ống có rêu bám, mất mùi tre thì cá mới tìm đến trú ngụ", ông Định giải thích.

Hiện ông sở hữu khoảng 300 ống tre, được đặt luân phiên trên các bãi cát ven sông. Mỗi vị trí đều được đánh dấu bằng một cây tiêu nhỏ, vừa để nhận biết, vừa tránh nhầm lẫn với bẫy của người khác.

Thành quả của ông Định sau khi kiểm tra hết các bẫy đặt ở sông Trà Khúc. ẢNH: HẢI PHONG
Thành quả của ông Định sau khi kiểm tra hết các bẫy đặt ở sông Trà Khúc. ẢNH: HẢI PHONG

Bẫy thường được đặt ở những đoạn nước nông, độ sâu không quá 1,5 m - nơi cá bống thích trú ẩn. Đặc biệt, việc đặt bẫy phải "canh" theo con nước. Khi nước lớn hoặc chảy xiết, người dân không thể thả bẫy, phải chờ nước rút mới tiếp tục công việc.

Nghề này cũng mang tính thời vụ rõ rệt. Một năm chỉ có khoảng 5 tháng, từ tháng 4 đến hết tháng 8 là thời điểm thuận lợi để đặt bẫy. Những tháng còn lại, khi cá còn nhỏ hoặc vào mùa mưa lũ, người dân phải chuyển sang làm nông để duy trì cuộc sống.

Theo ông Định, vào mùa sinh sản, cá bống thường sống theo cặp, thậm chí nhiều con cùng trú trong một ống tre. Có những hôm mở bẫy, ông bắt gặp 3 - 4 con cá mập ú nằm chung, "nhìn mà thích mắt".

Trung bình mỗi ngày vào mùa, ông Định thu được khoảng 3 - 4 kg cá. Cá vừa bắt lên thường được thương lái đến tận nơi thu mua, hoặc người dân trong vùng tìm đến đặt mua từ sớm. "cá bống sông Trà là đặc sản rồi, nên không lo đầu ra. Có bao nhiêu bán hết bấy nhiêu", ông Định nói.

Ông Định chèo ghe đi kiểm tra bẫy cá bống trên sông Trà. ẢNH: HẢI PHONG
Ông Định chèo ghe đi kiểm tra bẫy cá bống trên sông Trà. ẢNH: HẢI PHONG

Tuy nhiên, niềm vui từ "lộc sông" không còn trọn vẹn như trước. Ông Định trầm ngâm khi nhắc đến sự suy giảm của nguồn cá. "Hồi trước cá nhiều vô kể, đặt bẫy là có vài ký mỗi ngày. Giờ cá ít dần do môi trường ô nhiễm, rồi có người dùng kích điện đánh bắt nên nguồn cá ngày càng cạn", ông chia sẻ, giọng đầy tiếc nuối.

Không chỉ ông Định, nhiều người dân ven sông cũng cảm nhận rõ sự thay đổi. Sản lượng cá giảm, nhưng giá tăng, phần nào bù đắp thu nhập. Dẫu vậy, nỗi lo về sự mai một của nguồn lợi tự nhiên vẫn luôn thường trực.

Ống tre dài khoảng 60 - 70 cm được cắt hai đầu làm bẫy cá bống. ẢNH: HẢI PHONG
Ống tre dài khoảng 60 - 70 cm được cắt hai đầu làm bẫy cá bống. ẢNH: HẢI PHONG

GIỮ KÝ ỨC DÒNG SÔNG

Với ông Định, nghề đặt ống tre không chỉ là kế sinh nhai mà còn là ký ức gắn bó suốt đời. Nhờ nghề này, ông nuôi 3 người con ăn học đến nơi đến chốn, nay đều đã trưởng thành, có công việc ổn định. "Giờ tuổi cao rồi, con cái cũng yên bề gia thất, tôi đi bẫy cá chủ yếu để giữ nghề, cho đỡ nhớ sông nước, với lại rèn luyện sức khỏe", ông cười hiền.

Ông nhớ lại thời trước, dọc hai bên sông Trà, người làm nghề chài lưới đông đúc. Mỗi sáng, hàng chục chiếc ghe xuôi ngược, người thả lưới, người đặt rập, người cắm ống tre… gặp nhau giữa dòng sông, rộn ràng tiếng cười nói. "Giờ thì ít hơn nhiều rồi. Người trẻ không còn mặn mà với nghề nữa, họ đi làm công ty, buôn bán. Nghề này chắc rồi cũng mai một dần", ông Định trầm ngâm.

Khu vực ông Định đặt bẫy cá bống dưới sông Trà. ẢNH: HẢI PHONG
Khu vực ông Định đặt bẫy cá bống dưới sông Trà. ẢNH: HẢI PHONG

Không chỉ là nguồn sinh kế, cá bống sông Trà còn là một phần ký ức của nhiều người con Quảng Ngãi xa quê. Chị Lê Thùy Trang (30 tuổi, quê Quảng Ngãi, hiện sinh sống và làm việc tại TP.HCM) cho biết, mỗi lần về quê, chị đều mua cá bống sông Trà làm quà cho bạn bè, người thân. "Cá bống sông Trà là ký ức tuổi thơ của tôi. Ngày nhỏ, ba mẹ hay nấu cá bống kho nghệ hoặc cá bống rim, ăn với cơm nóng rất ngon. Cá ở đây thịt chắc, thơm, vị rất riêng, không giống nơi khác", chị Trang chia sẻ.

Hiện nay, trên các quầy bán đặc sản Quảng Ngãi, cá bống sông Trà luôn là mặt hàng không thể thiếu. Từ những món dân dã trong bữa cơm gia đình đến quà biếu cho người thân, cá bống đã trở thành "hồn quê" của vùng đất này.

(còn tiếp)

Theo HẢI PHONG (TNO)

Có thể bạn quan tâm

Chiếc a chói giữa rừng Trường Sơn

Chiếc a chói giữa rừng Trường Sơn

Dưới mái hiên nhà sàn ở xã La Lay (Quảng Trị), tiếng dao chẻ tre vang lên đều đặn giữa buổi sớm. Nghệ nhân Hồ Văn Thành ngồi bên bó mây vừa lấy từ rừng về. Ông tỉ mẩn đường dao chuốt từng sợi nan tre. Ở miền tây Quảng Trị, hình ảnh ấy không hiếm gặp...

Nghị lực phi thường của người thương binh hạng nặng Lê Thái Hà

Nghị lực phi thường của người thương binh hạng nặng Lê Thái Hà

(GLO)- Khi bị thương nặng tại chiến trường Campuchia, ông Lê Thái Hà (trú phường Bình Định, tỉnh Gia Lai) không nghĩ mình sẽ sống sót. Phục viên với sức khỏe suy giảm đến 91%, ông cũng từng không dám mơ đến những điều xa xôi về tương lai. Vậy mà người cựu chiến binh ấy đã can trường vượt qua tất cả.

4 ngày làm vợ, 54 năm đợi chờ

4 ngày làm vợ, 54 năm đợi chờ

Sau 54 năm kể từ ngày liệt sĩ Nguyễn Văn Đinh ngã xuống trên chiến trường Quảng Trị, bà Nguyễn Thị Ngọ (Nghệ An) mới được đứng trên mảnh đất ông hy sinh. Hành trình ấy khép lại nỗi khắc khoải của một người vợ, nhưng mở ra câu chuyện lay động về tình yêu, sự thủy chung không phai theo năm tháng.

'Bí kíp' nón ngựa nghĩa quân Tây Sơn

'Bí kíp' nón ngựa nghĩa quân Tây Sơn

Nghệ nhân ưu tú Đỗ Văn Lan (80 tuổi, ông Ba Lan) đang giữ nguyên vẹn “bí kíp” tổ truyền làm “nón ngựa Phú Gia” mà ngày xưa nghĩa quân Tây Sơn đội nắng mưa hành quân thần tốc. Những chiếc nón không chỉ như một tác phẩm nghệ thuật mà còn rất bền.

Tiếng vọng trong những phiến đá rêu phong

Tiếng vọng trong những phiến đá rêu phong

(GLO)- Ẩn mình dưới tán rừng già trên dãy núi Bích Kê, lũy đá cổ Phú Hà (thôn Hòa Tân, xã Phù Mỹ Bắc) lặng lẽ tồn tại như một chứng nhân của thời gian. Những bức tường đá phủ rêu bền bỉ trước mưa nắng dường như đang gìn giữ câu chuyện về một vùng đất từng giữ vị trí trọng yếu trong lịch sử.

Chợ ở Quy Nhơn xưa

Chợ ở Quy Nhơn xưa

Với vùng đất Quy Nhơn xưa (nay thuộc tỉnh Gia Lai), tìm hiểu những ngôi chợ cũ cũng là lần giở lại ký ức về quá trình hình thành và phát triển của một đô thị thương cảng, đặc biệt trên phương diện giao thương.

Lính công binh hồi sinh những vùng đất chết

Lính công binh hồi sinh những vùng đất chết

(GLO)- Giữa những cánh rừng và triền núi của phường Bồng Sơn và xã An Toàn, nơi chiến tranh từng đi qua và để lại vô số vết thương, cán bộ, chiến sĩ Lữ đoàn Công binh 7 (Quân đoàn 34) đang lặng lẽ thực hiện nhiệm vụ rà phá bom mìn, trả lại sự an toàn cho đất đai và cuộc sống bình yên cho người dân.

Từ Tiên Nữ đến Núi Le C: Khát vọng xanh giữa trùng khơi

Từ Tiên Nữ đến Núi Le C: Khát vọng xanh giữa trùng khơi

(GLO)- Giữa biển trời Tổ quốc, cán bộ, chiến sĩ đảo Tiên Nữ và Núi Le C vẫn kiên cường bám biển, giữ đảo. Vượt qua nắng gió khắc nghiệt và thiếu thốn nơi đầu sóng, những người lính đảo đang lặng thầm vun đắp màu xanh sự sống, giữ vững chủ quyền thiêng liêng của biển đảo quê hương.

“Đường về” của Siu Un

“Đường về” của Siu Un

(GLO)- Sau những sai lầm trong quá khứ, ông vượt qua mặc cảm, thay đổi nhận thức, trở thành người tích cực tuyên truyền pháp luật, vận động bà con sinh hoạt tôn giáo đúng quy định, góp phần giữ gìn bình yên buôn làng.

Những phận đời bới rác mưu sinh

Những phận đời bới rác mưu sinh

(GLO)- Mỗi buổi sáng, khi phố Núi còn bảng lảng sương sớm, những chuyến xe chở rác lại nối đuôi vào khu tập kết rác xã Gào. Giữa mùi hôi nồng và đàn ruồi dày đặc, những người phụ nữ lặng lẽ cúi mình trên nền đất nhớp nháp, cần mẫn bới tìm chai nhựa, lon bia, giấy vụn…

null