Tự hào chiến sĩ Điện Biên
Đưa chúng tôi đến thăm ông Nguyễn Văn Thiện (SN 1930, ở 370/40 Phạm Văn Đồng, phường Thống Nhất), ông Phạm Xuân Vinh, Chủ tịch Hội CCB phường, trầm ngâm: “Cựu chiến sĩ Điện Biên sinh sống trên địa bàn phường giờ chỉ còn lại 2 người, đều đã ở tuổi gần trăm…”.
Câu nói như một lời nhắc về sự hữu hạn của thời gian, càng khiến cuộc gặp gỡ với các nhân chứng lịch sử trở nên quý giá hơn bao giờ hết.
Trong căn nhà nhỏ, ông Nguyễn Văn Thiện chậm rãi mở chiếc hộp thiếc cũ. Đôi tay run run, ông nâng niu từng tấm huy hiệu đã bạc màu theo năm tháng. Tai đã nặng, phải nói lớn ông mới nghe rõ, nhưng khi nhắc đến Điện Biên, giọng ông lập tức to vang, mắt ánh lên niềm tự hào.
Nhập ngũ năm 1951, đầu năm 1954, ông Thiện được bổ sung về Đại đội 74 (Trung đoàn 367, Sư đoàn 351) tham gia Chiến dịch Điện Biên Phủ. Đơn vị của ông không trực tiếp đánh cứ điểm mà bám trụ trên các cung đường, phối hợp cùng các lực lượng bảo vệ tuyến đường huyết mạch phục vụ chiến dịch. Những địa danh như Cò Nòi, Hát Lót, Nà Sản, Pha Đin, Tuần Giáo… lần lượt hiện về trong ký ức.
Đó không chỉ là những điểm trên bản đồ mà là nơi thấm đẫm mồ hôi, máu và nước mắt.
“Ác liệt lắm… Chúng tôi ăn, ngủ trong chiến hào, công sự; trận địa luôn linh hoạt, sẵn sàng chiến đấu. Đồng đội có người bị thương, có người hy sinh…” - ông Thiện trầm giọng. Sau 56 ngày đêm, chiến dịch toàn thắng. Khoảnh khắc ấy, theo ông, giản dị mà không thể nào quên: “Nghe tin thắng trận, cả đơn vị hò reo, ai còn lương khô cũng mang ra chia nhau ăn mừng”.
Thời gian cũng đã in hằn dấu vết lên mái tóc bạc, đôi tay run và thính giác kém dần của ông Trần Minh Thiêm (SN 1933, ở tổ 7, xã Phú Túc). Dẫu không còn nhớ rành rọt phiên hiệu đơn vị, ông vẫn khẳng định chắc nịch, mình là lính của Đại đoàn pháo binh 351.
Ông kể ngày nhận lệnh tham gia chiến dịch, đơn vị hành quân bộ gần hai tháng, băng rừng, vượt suối, trèo đèo không ngơi nghỉ để tiến về Điện Biên. Gian khổ nhất không phải là đường xa mà là bệnh sốt rét. Nhiều đồng đội đang khỏe mạnh cũng gục xuống, phải quay về tuyến sau điều trị.
Những năm tháng ấy được ông gói gọn trong những hình ảnh ám ảnh: “Khoét núi, ngủ hầm, mưa dầm, cơm vắt”. Bữa ăn là cơm nắm với muối hạt, có khi lẫn máu; hằng tháng không được tắm giặt, chỉ lau người qua loa… Nhưng chính trong gian khó ấy, tinh thần đoàn kết và ý chí kiên cường đã trở thành điểm tựa. Mỗi chuyến hàng vượt núi, mỗi mét giao thông hào được đào thêm đều góp phần làm nên thắng lợi.
Khi chiến dịch kết thúc, niềm vui vỡ òa. Và đến hôm nay, khi sống trong hòa bình, sum vầy bên con cháu, ông vẫn nhấn mạnh một điều giản dị mà sâu sắc: Thế hệ sau cần biết trân trọng quá khứ, sống có trách nhiệm và nỗ lực dựng xây quê hương.
Trân trọng, gìn giữ quá khứ
Với gia đình ông Nguyễn Minh Trí (SN 1957, tổ 6, xã Đức Cơ), mỗi dịp kỷ niệm Chiến thắng Điện Biên Phủ, trong không gian ấm cúng, con cháu quây quần thắp nén hương tưởng nhớ cha mẹ - những người đã đi qua chiến tranh.
Cha ông Trí là ông Nguyễn Văn Tân, nhập ngũ năm 1952, tham gia Chiến dịch Điện Biên Phủ từ đầu đến cuối, sau đó tiếp tục công tác ở nhiều vị trí; còn mẹ là bà Nguyễn Thị Hợp là dân công hỏa tuyến, ngày đêm gùi hàng, tải đạn, bám trụ chiến trường. Họ gặp nhau ngay trong chiến dịch, nên duyên vợ chồng năm 1956. Dù cả hai đã đi xa nhiều năm, nhưng câu chuyện về một thời lửa đạn vẫn được con cháu gìn giữ như một phần ký ức thiêng liêng.
Mở chiếc tủ gỗ, ông Trí cẩn thận lấy ra những kỷ vật của cha mẹ được gìn giữ cẩn thận: Huân chương, huy chương, giấy tờ và những trang viết đã nhuốm màu thời gian. “Đó là cả một thời tuổi trẻ gian khổ nhưng rất đỗi tự hào của cha mẹ, nên anh em tôi luôn trân trọng giữ gìn”-ông Trí chia sẻ.
Tiếp lời anh trai, ông Nguyễn Ngọc Kiên (SN 1970) cho biết, gia đình đặc biệt nâng niu những trang nhật ký về hồi ức chiến trường mà cha để lại. Dù nhiều trang đã mờ nhòe, nhưng từng dòng chữ vẫn tái hiện phần nào sự khốc liệt của chiến tranh, nơi mà mỗi chiến thắng đều phải đánh đổi bằng máu xương.
Trong đó có đoạn viết: “Bệnh sốt rét hoành hành, 1/3 quân số bị ốm nhưng khi hết cơn sốt lại tiếp tục vào rừng lao động ngày đêm, mặc cho sương mù gió núi, muỗi vắt cắn đốt. Mọi đồng chí đều quyết tâm hoàn thành nhiệm vụ trước thời hạn”.
Có những dòng ghi lại cảnh bom đạn bất ngờ ập đến, đồng đội hy sinh ngay trước mắt. Người chỉ huy ngã xuống, để lại khoảng trống không gì bù đắp. Nhưng ngay cả trong mất mát, niềm tin vào thắng lợi vẫn hiện hữu - một tinh thần xuyên suốt, làm nên sức mạnh của cả chiến dịch…
Với gia đình ông Trí, những kỷ vật không chỉ là hoài niệm, mà còn là sợi dây kết nối các thế hệ, nhắc nhở con cháu về lòng yêu nước, ý chí và sự hy sinh của cha ông.