(GLO)- Từ 300 triệu đồng có được sau khi bán mảnh đất canh tác duy nhất của mình, anh Thái Xuân Biên (40 tuổi, ở thôn An Thượng 3, xã Cửu An) bước vào lĩnh vực công nghệ sinh học dù chưa từng biết đến phòng thí nghiệm. 6 năm sau, mỗi năm doanh nghiệp của anh sản xuất 19 triệu cây giống.
Bán đất mua tương lai
Trong tổ hợp nhà lưới và phòng thí nghiệm rộng hơn 60.000 m², hàng triệu cây keo, bạch đàn đang lớn lên dưới ánh đèn huỳnh quang, trong những bình thủy tinh vô trùng. Giữa không gian ấy, anh Thái Xuân Biên - Giám đốc Công ty CP Công nghệ sinh học lâm nghiệp Thái Xuân Biên với khuôn mặt sạm nắng, giọng xứ Nẫu đặc sệt, tự tay kiểm tra từng bình nuôi cấy mỗi sáng. Anh nói, con đường đưa mình đến đây bắt đầu từ nương rẫy, từ nhà máy gỗ, từ một mảnh đất bazan đã bán đi… Và anh chưa bao giờ hối hận.
Anh Thái Xuân Biên-Giám đốc Công ty Cổ phần Công nghệ sinh học lâm nghiệp Thái Xuân Biên. Ảnh: T.Lợi
* Năm 2019, khi quyết định bán đất khởi nghiệp, chắc nhiều người nói anh liều. Điều gì khiến anh đủ tin để đặt cược toàn bộ tài sản gia đình vào một lĩnh vực chưa từng làm?
- Tôi đã đi làm thuê ở nhà máy gỗ, nhà máy đường nhiều năm. Đi nhiều mới thấy người trồng rừng quá vất vả, hiệu quả thấp vì giống không đồng đều, không sạch bệnh. Khi về quê mở vườn ươm nhỏ, tôi nhận ra làm giống tốt thì mình dễ bán được hàng còn người dân thì đỡ khổ. Vốn ban đầu 300 triệu đồng là tiền bán mảnh đất canh tác duy nhất của gia đình. Không dám thay đổi thì mãi quanh quẩn với cái nghèo. Tôi chấp nhận rủi ro đó.
* Từ vườn ươm nhỏ đến công nghệ nuôi cấy mô, khoảng cách rất lớn. Anh tiếp cận công nghệ này như thế nào?
- Tôi tìm đến Viện Nghiên cứu giống và công nghệ sinh học lâm nghiệp (thuộc Viện Khoa học lâm nghiệp Việt Nam). Chúng tôi hợp tác qua dự án “Phát triển giống cây lâm nghiệp phục vụ trồng rừng kinh tế”. Từ đó tôi dần làm chủ quy trình nhân giống keo, bạch đàn bằng nuôi cấy mô tế bào thực vật. Tôi tin rằng, đây chính là tương lai của ngành lâm nghiệp Việt Nam, vì công nghệ này đã được Chính phủ xác định là 1 trong 10 nhóm công nghệ chiến lược.
* Khoảnh khắc khó khăn nhất trong hành trình khởi nghiệp của anh là gì?
- Không phải thiếu tiền, chỉ sợ phụ lòng người đã tin mình. Hồi đó có anh Võ Thành Triền theo tôi từ khi còn là vườn ươm nhỏ, điều kiện thiếu thốn đủ thứ. Có chị Huỳnh Thị Xuân Thương, nhân viên cấy mô đầu tiên tôi tự đào tạo, vừa học vừa làm không ngại khó. Họ tin mình khi mình chưa chứng minh được gì. Áp lực ấy lớn hơn bất cứ con số nào.
Anh Thái Xuân Biên (bên phải) tham gia các chương trình hợp tác với đối tác nước ngoài. Ảnh: NVCC
* Và rồi điều gì thay đổi?
- Cây giống đầu tiên nuôi cấy mô thành công. Khi thấy cây con nhỏ xíu từ trong bình thủy tinh ra được ngoài nhà lưới, sinh trưởng khỏe mạnh, tôi xúc động thật sự. Với nhiều người đó chỉ là một cây giống. Với tôi đó là bằng chứng người nông dân cũng có thể làm công nghệ cao nếu đủ quyết tâm. Từ đó tôi không còn nghi ngờ hướng đi nữa.
Khẳng định chất lượng !
Nói về kỹ thuật nuôi cấy mô, anh Thái Xuân Biên giải thích rành rẽ như người đã sống với nó nhiều năm. Điều anh tự hào nhất không phải công nghệ, mà thứ công nghệ đó mang lại cho người trồng rừng cây giống có với tỷ lệ sống trên 95%, năng suất tăng từ 15 - 30% so với giống kiểu cũ. Năm 2025, Cục Sở hữu trí tuệ cấp nhãn hiệu “Keo nuôi cấy mô” và “Bạch đàn nuôi cấy mô” mang tênt Thái Xuân Biên, bước đi khẳng định chất lượng gắn với một cái tên cụ thể, một con người cụ thể.
* Từ doanh số 4,2 tỷ đồng năm 2023 lên 22 tỷ năm 2025, bí quyết tăng trưởng của anh là gì?
- Chữ “tín”. Khi đối tác Nhật Bản, Công ty TNHH trồng rừng Quy Nhơn… chọn giống của chúng tôi, đó không chỉ là hợp đồng, đó là sự xác nhận về chất lượng. Khách hàng lâm nghiệp không gắn bó lâu dài với sản phẩm chất lượng thấp. Khi họ thấy rừng mọc tốt, họ quay lại và giới thiệu người khác. Cây giống của chúng tôi hiện có mặt ở Khánh Hòa, Nghệ An, Quảng Bình, Quảng Ninh, Đắk Lắk, Đồng Nai, Cà Mau...
Nhiều vườn ươm dùng giống của chúng tôi làm vật liệu đầu dòng để nhân tiếp, đó mới là điểm tạo ra hiệu ứng nhân rộng thật sự.
*Anh có thể kể về một khách hàng đặc biệt, người đã tin vào cây giống của anh từ những ngày đầu tiên?
Vườn ươm cây keo nuôi cấy mô. Ảnh: NVCC
- Người tôi biết ơn nhất là anh Phan Chí Thành, chủ vườn ươm tại Khánh Hòa. Thời điểm đó sản phẩm của chúng tôi gần như chưa có tên tuổi gì trên thị trường. Nhưng anh Thành dám mua với số lượng lớn, thậm chí trả tiền trước để công ty có vốn duy trì sản xuất. Rồi anh còn chủ động giới thiệu chúng tôi đến nhiều khách hàng khác. Với DN khởi nghiệp, sự tin tưởng đó quý hơn rất nhiều so với giá trị đơn hàng. Trên hành trình của mình, gặp được người dám tin mình lúc khó khăn là điều may mắn hiếm có.
* Công ty anh còn chuyển đổi số trong quản lý sản xuất…
- Chúng tôi xây dựng hệ thống dữ liệu theo dõi từng lô sản xuất, gồm: Mã nguồn giống, ngày vào mẫu, công thức môi trường nuôi cấy, tỷ lệ nhiễm, tỷ lệ ra rễ, tỷ lệ sống sau khi ra vườn ươm. Thông tin khách hàng, ngày xuất bán, phản hồi từ thực địa đều được số hóa và đưa về một hệ thống chung. Kho vật tư, hóa chất, điện năng, nước tưới cũng được kiểm soát chặt theo dữ liệu.
Tới đây, chúng tôi sẽ lắp thêm camera giám sát, nhật ký điện tử và báo cáo tự động để lãnh đạo theo dõi mọi chỉ tiêu vận hành dù đang ở bất cứ đâu. Chuyển đổi số với chúng tôi không phải để hiện đại cho đẹp, mà để không bỏ sót bất cứ sai sót nào trong quy trình tạo ra cây giống.
Khát vọng của người yêu đất
Mỗi lần đi thăm rừng của khách hàng, anh Thái Xuân Biên đứng lặng giữa những hàng cây thẳng tắp, cao lớn, xuất phát từ những cây con bé bằng ngón tay trong bình thủy tinh của anh. Anh không gọi đó là thành công mà gọi đó là câu trả lời cho hướng đi của mình đúng. Anh buộc mình phải đi thăm rừng vì đó là nguồn dữ liệu thực địa quan trọng nhất, để biết cây giống của mình cần cải tiến điều gì. Và bao giờ cũng vậy, vượt lên trên những dữ liệu khô khan, là chuỗi cảm xúc tươi mới, tràn trề hy vọng.
* “Dự án Nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao Thái Xuân Biên” mà anh đang xin chủ trương đầu tư có điểm nào khác biệt so với những gì anh đang có?
- Cơ sở hiện tại chúng tôi đã làm được nhiều thứ, nhưng vẫn còn giới hạn về hạ tầng và công suất. Khi được phê duyệt và đi vào vận hành ổn định, dự kiến năm 2029 dự án sẽ chuẩn hóa toàn bộ hạ tầng phòng thí nghiệm, mở rộng công suất sản xuất và trở thành trung tâm nghiên cứu, chuyển giao công nghệ giống lâm nghiệp cho khu vực Tây Nguyên và Duyên hải Nam Trung Bộ. Mục tiêu là doanh thu ổn định khoảng 150 tỷ đồng mỗi năm, tạo việc làm cho hơn 500 lao động địa phương. Đối tác Nhật Bản và Trung Quốc đã tiếp xúc và đánh giá cao quy trình công nghệ của chúng tôi, không phải vì chúng tôi rẻ, mà vì chúng tôi làm được.
* Nhìn rộng hơn, theo anh, nông nghiệp công nghệ cao ở Việt Nam còn thiếu điều gì để phát triển mạnh mẽ hơn?
- Không thiếu tiềm năng, không thiếu người dám làm, điều còn thiếu lớn nhất là sự liên kết đồng bộ giữa KHCN, vốn đầu tư và thị trường đầu ra bền vững. Rất nhiều nông dân muốn ứng dụng công nghệ nhưng chi phí ban đầu cao, trong khi tiếp cận vốn và chuyển giao kỹ thuật vẫn còn khó. Không ít mô hình phải dừng lại vì đầu ra không ổn định.
Để nông nghiệp công nghệ cao thực sự bứt phá, cần kết nối chặt hơn giữa Nhà nước - DN - nhà khoa học và người nông dân. Quan trọng hơn, Việt Nam cần đầu tư vào làm chủ công nghệ lõi thay vì phụ thuộc công nghệ nhập khẩu. Khi tự làm chủ được công nghệ, nông nghiệp Việt Nam mới cạnh tranh được trên sân chơi quốc tế.
* Được xã Cửu An đề cử “Nông dân Việt Nam xuất sắc”, anh muốn gửi gắm điều gì đến những thanh niên nông thôn đang đứng trước ngã rẽ?
- Tôi rút ra rằng xuất phát điểm không quyết định tương lai. Tôi bắt đầu bằng 300 triệu đồng từ mảnh đất canh tác duy nhất của gia đình, không có bằng đại học, không có kinh nghiệm nghiên cứu, nhưng nếu biết mình đang giải quyết vấn đề gì cho ai, làm bằng sự tử tế thật sự, công nghệ sẽ là công cụ chứ không phải rào cản. Nông nghiệp hôm nay không còn câu chuyện “bán mặt cho đất, bán lưng cho trời”. Đất vẫn vậy, nhưng cách mình làm việc với đất đã hoàn toàn khác rồi.
* Xin cảm ơn anh!
Anh Thái Xuân Biên được Chủ tịch UBND tỉnh tặng bằng khen vì thành tích xuất sắc trong phong trào Nông dân sản xuất kinh doanh giỏi giai đoạn 2017 - 2022; được công nhận “Hộ nông dân sản xuất kinh doanh giỏi cấp Trung ương” giai đoạn 2017 - 2021. Năm 2025, DN của anh vào Top 20 Thương hiệu Vàng Việt Nam, được cấp nhãn hiệu độc quyền “Keo nuôi cấy mô”, “Bạch đàn nuôi cấy mô” và đạt chứng nhận ISO 9001:2015 cho hệ thống sản xuất rộng 60.000 m². Ngoài ra, anh còn nhận bằng khen của Hội Nông dân tỉnh (các năm 2024, 2025), Ủy ban MTTQ Việt Nam tỉnh (năm 2025)…
Thay vì thực hiện quy trình kiểm soát nghiêm ngặt, cán bộ thú y tại một lò mổ lợn ở phường Chương Mỹ (Hà Nội) thản nhiên bỏ chốt, nhờ người nhà chủ lò mổ hoặc thương lái tự ý đóng dấu kiểm soát giết mổ.
(GLO)- Dọc dải biên giới phía Tây của tỉnh, làng Triêl (xã Ia Pnôn) và làng Kloong (xã Ia O) là hai cộng đồng đặc biệt khi phần lớn cư dân mang gốc gác Campuchia. Thoạt nhìn, diện mạo hai ngôi làng không khác nhiều so với các làng Jrai lân cận.
(GLO)- Hơn 70 năm trôi qua, những người góp sức làm nên chiến thắng Điện Biên Phủ “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu” đã ở tuổi xưa nay hiếm, nhiều người không còn nữa. Dù vậy, trong từng câu chuyện, từng kỷ vật được gìn giữ, một thời hoa lửa vẫn hiện lên chân thực, xúc động và đầy tự hào.
(GLO)- Trong dòng chảy tái thiết và phát triển kinh tế sau ngày đất nước thống nhất, chính sách di dân xây dựng vùng kinh tế mới đã mở ra một chương đặc biệt trong lịch sử phát triển của Gia Lai.
Sương sớm còn vương trên những tán rừng già, giăng thành lớp màn mỏng bảng lảng phủ xuống buôn làng. Từng mái nhà dài của người Mnông ở xã Đam Rông 4 (Lâm Đồng) lặng lẽ thức giấc trong tiếng gà rừng gọi sáng, trong mùi khói bếp len qua vách gỗ.
(GLO)- Hơn nửa thế kỷ đã trôi qua, với những người từng đi qua chiến tranh, cũng như trong nhận thức của thế hệ hôm nay, mốc son lịch sử 30-4-1975 là động lực cho sự tiếp nối, dấn thân, đi tới, dựng xây quê hương giàu đẹp.
(GLO)- Chiến tranh dẫu khốc liệt song từ sự đồng hành của những người cùng chung lý tưởng cách mạng, tình yêu đã đơm hoa kết trái, trở thành điểm tựa để người lính vững vàng giữa bom đạn, vun đắp nên hạnh phúc bền chặt sau ngày đất nước thống nhất.
(GLO)- Nhắc đến ông Ngô Văn Hòa - Chủ nhiệm Câu lạc bộ (CLB) Guitar Thầy và Trò (phường Diên Hồng, tỉnh Gia Lai), mọi người nghĩ ngay đến hình ảnh một người thầy lặng thầm gom góp yêu thương, lan tỏa điều tử tế và sẻ chia với những mảnh đời khốn khó.
(GLO)- Từ vùng căn cứ cách mạng ghi dấu nhiều chiến công trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Cát Tiến hôm nay đang khoác lên mình diện mạo mới với hạ tầng đồng bộ, kinh tế khởi sắc và nhịp sống ngày càng sôi động.
Chiến tranh đã lùi xa, nhưng trong tâm trí những cựu tù Côn Đảo (nay thuộc Đặc khu Côn Đảo, Thành phố Hồ Chí Minh) ký ức về những năm tháng đói khổ, đớn đau vì bị giam cầm, tra tấn nơi “địa ngục trần gian” vẫn còn nguyên vẹn.
(GLO)- Giữa đại ngàn An Toàn (tỉnh Gia Lai), những cây chè tiến vua cổ thụ vẫn lặng lẽ xanh qua bao mùa mưa nắng, trở thành “báu vật” của núi rừng và niềm tự hào của người dân địa phương.
“Phải bảo vệ tuyệt đối môi trường tự nhiên”, đó là quan điểm cứng rắn của TS Chu Mạnh Trinh, giảng viên Khoa Sinh - Nông nghiệp - Môi trường Trường đại học Sư phạm (Đại học Đà Nẵng).
Cứ khoảng cuối tháng 5 hằng năm, tỉnh Quảng Trị lại chuẩn bị cho một sự kiện đặc biệt: lễ đón hài cốt liệt sĩ là các chiến sĩ quân tình nguyện và chuyên gia VN hy sinh trên đất bạn Lào trở về an táng tại Nghĩa trang liệt sĩ quốc gia Đường 9 và Nghĩa trang liệt sĩ Ba Dốc.
Việc đưa công nghệ giám định ADN vào công tác tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính các liệt sĩ chưa rõ tên đã tạo ra một bước ngoặt quan trọng trong hành trình tri ân, được xem là chìa khóa vàng giúp tháo gỡ những nút thắt tồn đọng suốt nhiều năm...
(GLO)- Rời TP Hồ Chí Minh về công tác tại Trường THCS Ân Mỹ (xã Ân Hảo), cô Nguyễn Thị Thúy mang theo nhiều trăn trở về cách giúp học sinh vùng nông thôn tự tin hơn trong học môn Tiếng Anh. Từ đó, cô từng bước tạo dấu ấn bằng phương pháp giảng dạy linh hoạt, phù hợp với học sinh.
(GLO)- Ít ai biết, sau dáng vẻ điềm đạm, ít nói của người đàn ông đã bước qua tuổi lục tuần - Kpă Dõ, Trưởng ban Công tác Mặt trận làng Lê Ngol (xã Bờ Ngoong) - là một quá khứ nhiều day dứt. Hai mươi lăm năm trước, vì nhẹ dạ và thiếu hiểu biết, ông bị lôi kéo vào con đường lầm lỡ.
Sáng 2.4 vừa qua, tại di tích lịch sử Thành cổ Quảng Trị (tỉnh Quảng Trị), Ban Chỉ đạo quốc gia tổ chức lễ phát động "Chiến dịch 500 ngày đêm đẩy mạnh thực hiện tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ".
Buổi sáng cuối tháng 3, khi nắng vừa kịp hong khô lớp sương mỏng còn vương trên mặt nước, cảng cá Hòn Rớ (phường Nam Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa) đã rộn ràng như một “cỗ máy” không ngừng nghỉ.
Cứ vào độ từ tháng giêng đến tháng 5 âm lịch hằng năm, biển Hà Tĩnh lại hào phóng ban tặng người dân địa phương những món quà giá trị. Đó là những luồng cá trích bạc tỉ, những dải sứa trắng trong, hay những đàn mực nhảy tươi rói.
(GLO)- Sớm mai ở Ia Krái, dòng Pô Cô uốn lượn như dải lụa bạc giữa mênh mông cây cối. Nước sông lăn tăn, gợn sóng nhỏ vỗ vào bãi cát vàng, len qua vườn rẫy, tạo thành một bản hòa ca của thiên nhiên và con người.
(GLO)- Tự xa xưa người Bahnar ở đại ngàn An Toàn (tỉnh Gia Lai) đã biết sử dụng nhiều loài cây rừng để làm thuốc chữa bệnh. Kinh nghiệm được chắt lọc qua nhiều thế hệ, không chỉ chăm sóc sức khỏe cộng đồng mà còn thể hiện sự am hiểu sâu sắc về tự nhiên, góp phần gìn giữ giá trị y học dân gian.
(GLO)- Ba đối tượng cốt cán cuối cùng của tà đạo “Hà Mòn” bị bắt giữ tại khu vực núi Jơ Mông (giáp ranh xã Hra và xã Lơ Pang) vào ngày 19-3-2020 đã đánh dấu bước ngoặt quan trọng, khép lại hành trình đấu tranh kéo dài hơn một thập kỷ.
Ở đặc khu Lý Sơn (Quảng Ngãi), lão ngư Dương Minh Thạnh được nhiều ngư dân gọi là “lão ngư Hoàng Sa” bởi có công “nối biển” Lý Sơn ra quần đảo Hoàng Sa. Ông còn được mệnh danh là “sói biển” Lý Sơn, bởi sức vươn khơi dẻo dai, từng 5 lần thoát chết thần kỳ giữa bão biển.