Ia Krái được hình thành từ sự hợp nhất của 3 xã Ia Tô, Ia Khai và Ia Krái cũ. Xã Ia Krái có diện tích 308 km², dân số gần 29.000 người, trong đó đồng bào Jrai chiếm khoảng 47%. Xã có thế mạnh về phát triển cây công nghiệp dài ngày, tiềm năng phát triển du lịch và nuôi trồng thủy sản.
Hai bên con đường dẫn vào làng Nú, hoa điều đua nhau nở rộ, mùi hương lan trong gió, hòa cùng cây hương cỏ từ những mảnh vườn nhỏ. Tiếng chim líu lo, tiếng lá xào xạc lẫn âm thanh cuộc sống phát ra từ các nhà dân. Gió từ sông Pô Cô thổi mát, làm dịu đi cái nắng mùa khô.
Hai bên đường, những ngôi nhà xây kiên cố với mái ngói đỏ, tường sơn sáng và sân vườn được chăm sóc cẩn thận, tỏa bóng xuống con đường trải nắng. Khó ai nghĩ rằng nơi này từng là một trong những ngôi làng nghèo nhất xã.
Già làng Rơ Châm Hmơnh kể: “Ngày trước, dân làng mình rất nghèo. Năm 2000, làng có 90 hộ thì cả 90 hộ đều thuộc diện đói nghèo. Phương thức sản xuất chủ yếu là phát nương làm rẫy, vài năm lại sang nơi khác. Lương thực không đủ ăn. Có gia đình phải nấu thân cây chuối cho đỡ đói.
Hôm lạnh, mọi người quây quần bên bếp lửa sưởi ấm. Lúa rẫy năm được năm mất, bữa no bữa đói. Chúng tôi thường vào rừng hái lá, trái cây, săn thú chống đói. Nếu không thì chỉ trông chờ Nhà nước hỗ trợ gạo, muối, áo quần”.
Giờ đây, làng Nú đã khác. Các hộ dân trong làng đều có nhà xây kiên cố, nhiều hộ thu nhập cao từ nông nghiệp. Điển hình như gia đình anh Puih Luih mỗi năm thu nhập 250-300 triệu đồng.
Ở làng Ó, đời sống cũng sang trang. Giữa làng, ngôi nhà của vợ chồng anh Rơ Lan Hle nổi bật với vẻ bề thế: họa tiết trang trí trên tường, cổng sắt chắc chắn, hàng rào bê tông dài gần trăm mét khiến người qua lại phải dừng chân ngắm nhìn.
Vừa tắt máy xay xát lúa sau khi phục vụ bà con, nhắc về những ngày gian khó, anh Hle trầm giọng kể: “Ngày trước nghèo lắm. Vợ chồng cưới nhau xong ở căn nhà cũ kỹ. Mưa thì lạnh, nắng thì nóng. Lúa rẫy thu hoạch chẳng được bao nhiêu, bữa cơm nhiều khi chỉ có rau rừng…”.
Nhìn thấy các hộ người Kinh quanh vùng trồng cà phê thu nhập khá, anh quyết định thử sức. Những ngày đầu, vợ chồng anh đi làm thuê, tích góp từng đồng mua cây giống. 3 năm sau, khi vườn cà phê cho thu hoạch, cuộc sống dần đổi khác.
Từ tiền bán cà phê, anh tiếp tục đầu tư trồng cao su, điều, mua thêm đất sản xuất. Đến nay, gia đình anh sở hữu 3 ha rẫy trồng cao su, cà phê, điều, thêm ruộng lúa nước và vườn cây ăn trái. Không chỉ làm kinh tế gia đình, anh còn đầu tư máy xay xát, máy múc phục vụ bà con.
Không xa nhà anh Hle là ngôi nhà xây khang trang của gia đình ông Rơ Lan Chiếu. Phía sau nhà, vườn tiêu xanh tốt leo kín trụ và những hàng cây ăn quả lúc lỉu trái.
Ông Chiếu là giáo viên, gắn bó với ngành Giáo dục hơn 20 năm. Nhắc lại quãng thời gian khó khăn, ông vẫn chưa quên cảm giác thiếu thốn ngày ấy. “Có khi nhà hết gạo, đồng nghiệp phải mang gạo đến trường cho mình đem về nuôi con. Nghèo quá cũng thấy ngại khi đứng lớp nói chuyện với đám học trò” - ông kể.
Sau giờ lên lớp, vợ chồng ông lại ra rẫy chăm sóc cà phê, hồ tiêu và điều. Nhờ chăm chỉ và biết áp dụng kỹ thuật sản xuất, diện tích vườn rẫy của gia đình ngày càng mở rộng.
Nhờ đó, gia đình ông thu nhập 300-400 triệu đồng/năm. Niềm vui lớn nhất là sự trưởng thành của các con, hai người hiện công tác trong lực lượng vũ trang và đã ổn định gia đình.
Theo ông Rơ Lan Phong (làng Ó), cả làng có 140 hộ, trong đó có 136 hộ người Jrai. Thu nhập bình quân khoảng 52 triệu đồng/người/năm, thuộc nhóm cao trong các làng Jrai của xã.
Rời làng Ó, con đường nhựa dẫn chúng tôi đến làng Kăm, uốn quanh những ngôi nhà còn thơm mùi vôi mới. Tiếng máy cày từ phía rẫy vọng lại, hòa với tiếng trẻ con nô đùa, tiếng gà gáy, tạo nhịp sống nhộn nhịp giữa rừng núi.
Theo Bí thư Chi bộ Rơ Mah Klo, làng Kăm hiện có 82 hộ, tất cả đều là người Jrai và có nhà xây kiên cố. Nhờ chăm chỉ làm ăn, đời sống của bà con ngày càng khá giả.
Trong làng có khoảng 15 hộ thu nhập 200-400 triệu đồng/năm. Mới đây, bà con đóng góp gần 300 triệu đồng xây nhà sinh hoạt chung - nơi tổ chức lễ hội truyền thống, sinh hoạt văn hóa và hội họp cộng đồng.
Trước hiên ngôi nhà khang trang trị giá gần 800 triệu đồng, anh Siu Hiếu nhớ lại quãng đời nghèo khó:
Tại làng Bi Ia Yom, gia đình Bí thư Chi bộ Rơ Lan Hlinh thuộc diện khá giả. Ngôi nhà bề thế sát tỉnh lộ 664 được xây từ nhiều năm trước với kinh phí khoảng nửa tỷ đồng.
Trước đây, ông từng sở hữu hơn 10 ha trồng cà phê, cao su, điều; nay đã chia bớt cho con cái. Ở làng Bi Ia Yom cũng có nhiều gia đình khá giả với nguồn thu nhập 300-400 triệu đồng/năm nhờ cây công nghiệp, chủ yếu là cà phê.
Sự phát triển rõ nhất phải kể đến làng Doch Krót. 20 năm trước, nơi đây chỉ rải rác vài ngôi nhà. Giờ đây, nhà dân và hàng quán san sát nhau. Người viết cũng trưởng thành từ vùng này nên cảm nhận rõ sự thay đổi ấy.
Theo bà Nguyễn Mai Lương - Phó Chủ tịch UBND xã Ia Krái, bộ mặt nông thôn của xã ngày càng khởi sắc với hạ tầng giao thông được đầu tư, nhiều tuyến đường liên thôn, liên làng bê tông hóa; đời sống người dân nâng cao, nhất là ở các ngôi làng có đông người Jrai.
“Xã xác định phát triển kinh tế phải phù hợp điều kiện thực tế của địa phương. Các loại cây công nghiệp như cà phê, cao su là hướng sản xuất chủ lực. Bên cạnh đó, xã triển khai các chương trình hỗ trợ kỹ thuật, cải tạo vườn tạp để nâng cao hiệu quả sản xuất.
Xã cũng định hướng thu hút đầu tư vào cụm công nghiệp, chăn nuôi quy mô lớn, thủy điện, năng lượng tái tạo; khai thác tiềm năng du lịch gắn với bến đò A Sanh và các di tích lịch sử” - bà Lương nói.
Dòng Pô Cô vẫn chảy qua vùng đất này như bao đời nay. Con sông từng chứng kiến những thời điểm giáp hạt, giờ lại chứng kiến giai đoạn hồi sinh và phát triển của Ia Krái.
Ở các buôn làng bên sông, người Jrai vẫn giữ tiếng cồng chiêng, tổ chức lễ hội truyền thống. Bên cạnh đó, vườn cà phê xanh ngát, hàng cao su thẳng tắp, mái nhà xây mới tạo nên nhịp sống đầy sức sống.
Một vùng đất giàu trầm tích lịch sử đang lặng lẽ đổi thay và câu chuyện về sự vươn lên của người dân Ia Krái vẫn tiếp tục được viết…