Gia đình ông Lý Duyên (SN 1960, ở làng Têng 2, xã Biển Hồ) rời quê hương Sóc Trăng tìm lên cao nguyên Gia Lai gầy dựng cuộc sống mới tại xã Biển Hồ cách đây hơn 50 năm.
Từ 2 giờ sáng mỗi ngày, khi sương còn dày, cái lạnh cao nguyên thấm nhanh qua từng lớp áo, ông Duyên đưa thuyền rời bến bắt đầu cuộc mưu sinh. Đến khoảng 5 giờ sáng, ông thu lưới trở về, nở nụ cười tươi hơn khi trong khoang thuyền có nhiều cá, tôm, tép... để mang ra chợ gần đó bán cho mối quen. Bình quân mỗi chuyến ông cũng kiếm vài trăm nghìn đồng.
Gắn bó với ông Duyên trong hành trình mưu sinh suốt mấy chục năm qua tại Biển Hồ là vợ ông - bà Nguyễn Thị Thành, SN 1960, quê ở làng chài Cát Tiến (huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định cũ; nay là xã Cát Tiến, tỉnh Gia Lai). Dù lớn lên trong gia đình gắn bó với nghề biển ở làng chài Cát Tiến, quen thuộc với việc đan vá lưới, nhưng khi kề cận cùng chồng mưu sinh trên mặt nước Biển Hồ, bà Thành cũng không khỏi bỡ ngỡ trong những ngày đầu.
“Lưới đánh bắt cá ở hồ không giống lưới biển, mắt lưới nhỏ hơn, nhẹ hơn, phải thả sát mặt nước và rất khéo tay, sơ sẩy một chút là mất cả mẻ cá. Dần dần tôi quen với nhịp sống ven hồ, cùng chồng vượt qua những thăng trầm trong cuộc sống. Vợ chồng tôi siêng năng chài lưới để nuôi đàn con khôn lớn”, bà Thành tâm sự.
Con trai cả của vợ chồng ông Duyên là anh Lý Hoài Thư (SN 1982, làng Têng 2), hiện làm nhân viên văn phòng ở phường Pleiku, nhưng mỗi khi rảnh, anh lại theo cha đi đánh bắt ở Biển Hồ. Anh Thư chia sẻ: “Từ nhỏ tôi đã quen mùi cá tươi và tiếng nước vỗ mạn thuyền. Những chuyến đi cùng cha giúp tôi học sự bền bỉ, tỉ mỉ, hiểu được sự cực nhọc mưu sinh trên mặt nước. Hiện có công việc ổn định, tôi vẫn muốn giữ liên kết với nghề đánh cá truyền thống của gia đình, bởi rất trân trọng những kinh nghiệm, nhịp sống của cha mẹ. Biển Hồ cũng là nơi lưu giữ kỷ niệm của gia đình tôi”.
Biển Hồ (hồ T’Nưng) không chỉ là thắng cảnh nổi tiếng của phố núi mà còn từng là nguồn sinh kế quan trọng của nhiều hộ dân ven hồ. Với diện tích mặt nước khoảng gần 230 ha, nằm ở độ cao khoảng 800 m so với mức nước biển, lòng hồ sâu, nước ngọt trong lành quanh năm, Biển Hồ có một hệ sinh thái thủy sinh khá phong phú.
Nguồn lợi thủy sản dồi dào ở Biển Hồ đã nuôi sống nhiều thế hệ ngư dân, nhất là các hộ đồng bào dân tộc thiểu số sống quanh hồ. Theo chia sẻ của nhiều ngư dân, từ sau Tết Nguyên đán đến khoảng tháng 3, tháng 4 là thời điểm Biển Hồ có nhiều cá, tôm nhất. Những ngày ấy, mẻ lưới thường nặng tay hơn bình thường.
Tuy nhiên, cùng với thời gian, nguồn lợi thủy sản Biển Hồ cũng chịu nhiều tác động dẫn đến suy giảm nhiều. Cách đây hơn chục năm, có hàng trăm hộ dân sống bằng nghề khai thác thủy sản ở Biển Hồ, nhưng hiện nay phần lớn các hộ dân này đã chuyển đổi nghề khác kiếm sống, chỉ còn một ít nhưng dường như số ít này làm nên nét riêng có thú vị về một cộng đồng làng chài nhiều dân tộc trên cao nguyên.
Sinh ra và lớn lên tại làng Têng 1 (xã Biển Hồ), ông Ksor Brưh (SN 1975) thời trẻ từng có nhiều năm gắn bó với nương rẫy và các công việc làm thuê quanh làng để mưu sinh. Hơn 20 năm trước, ông quyết định chuyển sang nghề đánh cá trên Biển Hồ.
Từ những ngày đầu còn bỡ ngỡ với thuyền, lưới và con nước, dần dần ông gắn bó lâu dài với mặt hồ để nuôi sống gia đình. Mỗi ngày, từ khoảng 16 - 17 giờ, ông Ksor Brưh chèo thuyền ra hồ thả lưới, đến 3 đến 5 giờ sáng, lại ra thu lưới trở về.
Bà Siu H’Ly (SN 1972, ở làng Yar, xã Biển Hồ) cũng từng có nhiều năm đi làm thuê quanh khu vực phố núi, chủ yếu là phụ hồ và các công việc thời vụ để mưu sinh. Cách đây gần 25 năm, sau khi lập gia đình, bà theo chồng gắn bó với nghề đánh cá trên Biển Hồ. Thích nghi dần với nhiều đêm phơi mình trong cái lạnh của sương phủ mặt hồ, bà cùng chồng chèo thuyền, thả lưới, gỡ cá và đem ra chợ bán.
Được biết, những năm gần đây, trước tình trạng tôm, cá ở Biển Hồ có thời điểm suy giảm nhiều, ngư dân cũng đã nâng cao ý thức gìn giữ nguồn lợi thủy sản lâu dài. Chị Siu H’Dăng (SN 1985, làng Kó), một người bán cá tại chợ Biển Hồ, cho biết: “Thủy sản ở Biển Hồ còn phụ thuộc nhiều vào thời tiết và mùa vụ. Hiện các loại cá chép, cá rô, cá bống, cá mè dao động có giá bán khoảng 60.000 - 120 nghìn đồng/kg, còn tôm, tép Biển Hồ có giá bán từ 120 - 200 nghìn đồng/kg. Ngoài tiêu thụ ở chợ, một phần cá, tôm, tép Biển Hồ đã được các nhà hàng, quán ăn mua để chế biến phục vụ thực khách. Tôi cũng nghe nói nhiều du khách rất thích thưởng tép Biển Hồ có vị ngọt thanh tự nhiên, khác biệt so với các loại tép nơi khác...”.
Ông Phạm Văn Trung - Phó Trưởng phòng Kinh tế (UBND xã Biển Hồ) - cho biết: Hiện nay, quanh khu vực Biển Hồ vẫn còn khoảng 20 hộ dân gắn bó với nghề đánh cá, chủ yếu là những người lớn tuổi và là người Jrai, tập trung ở làng Têng 1 và Têng 2. Họ thường sử dụng thuyền nhỏ, đi vào nửa đêm về sáng, sử dụng kỹ thuật đánh bắt truyền thống.
Có thể gọi nghề đánh cá ở Biển Hồ là một nét đẹp văn hóa. Bởi giữa nhịp sống hiện đại, bà con vẫn âm thầm bám trụ với nghề truyền thống, bằng cách đó họ neo lại bản sắc văn hóa địa phương, gìn giữ ký ức cộng đồng, giới thiệu một phần hồn cốt của cao nguyên...