Nghĩa tình son sắt - Kỳ 1: Đoàn thuyền cảm tử

Theo dõi Báo Gia Lai trên Google News

Quảng Bình, Quảng Trị (cũ) đã chính thức “về một nhà” theo Nghị quyết về việc sắp xếp đơn vị hành chính cấp tỉnh năm 2025.

Một chương mới mở ra mang theo niềm hy vọng vươn mình của khúc ruột miền Trung. Những câu chuyện, nhân vật, vùng đất đánh dấu nghĩa tình son sắt của hai địa phương trong chiến tranh cũng như hòa bình được kể lại...

Sau Tết Mậu Thân 1968, chiến trường Trị Thiên vẫn gay go, ác liệt. Bộ đội thiếu vũ khí, đạn dược một cách trầm trọng. Vậy là một kế hoạch cấp tốc và táo bạo được vạch ra từ vùng biển Quảng Bình. Những người dân quả cảm, mưu trí nhất của làng biển Cảnh Dương (huyện Quảng Trạch) được lựa chọn để thực hiện một sứ mệnh quan trọng nhưng cũng đầy nguy hiểm.

Đoàn thuyền vận tải đặc biệt

Đã từng nghe chuyện tỉnh Quảng Bình thời kháng chiến chống Mỹ có thành lập một “đoàn tàu không số” cho riêng địa phương này, tôi đem thắc mắc đó hỏi người dân Cảnh Dương. Ông Nguyễn Văn Biểu quả quyết: “Đúng là như vậy. Tuy nó không chính thức mang tên là Đoàn tàu không số nhưng hình thức tổ chức và hoạt động cũng gần như thế. Đây là đoàn tàu vận tải đặc biệt mang ký hiệu VT5 và chỉ tham gia chở một chuyến hàng duy nhất vào chi viện cho chiến trường Trị Thiên. Chiến công này đã được ghi vào cuốn Lịch sử Đảng bộ Quảng Bình, giai đoạn 1954-1975. Nhiều bà con Cảnh Dương trong đó có tôi đã tham gia chuyến đi lịch sử này”.

Ông Nguyễn Văn Biểu - ngoài cùng bên trái - và những chứng nhân một thời. Ảnh: PXD
Ông Nguyễn Văn Biểu - ngoài cùng bên trái - và những chứng nhân một thời. Ảnh: PXD

Ba ngày Tết Mậu Thân 1968 vừa mới đi qua, cả làng Cảnh Dương bỗng nhận được một thông tin rất quan trọng. Ông Nguyễn Kỉnh, Tỉnh đội phó Tỉnh đội Quảng Bình về tận vùng biển này truyền đạt chỉ thị cấp trên chuẩn bị cho chuyến vận tải vũ khí vào Trị Thiên. Sau khi xem xét kỹ, 71 người dân Cảnh Dương được lựa chọn, trong đó có 20 đảng viên. Tỉnh đội Quảng Bình cử ông Đậu Thanh Long, Tham mưu trưởng Tiểu đoàn 45 làm đoàn trưởng. Biên chế đơn vị trên 12 thuyền, mỗi thuyền là một tiểu đội gồm 6 người, ba thuyền là một trung đội. Toàn đoàn là một đại đội. Trẻ nhất đoàn là Nguyễn Văn Biểu khi ấy mới 16 tuổi, già nhất là ông Nguyễn Đái đã 70 tuổi.

Biển Cảnh Dương. Ảnh: Phạm Xuân Dũng
Biển Cảnh Dương. Ảnh: Phạm Xuân Dũng

Ông Phạm Ngọc Hướng (65 tuổi), một thành viên của đoàn ngày ấy kể với chúng tôi: “Tôi đã có lệnh nhập ngũ, nhưng vẫn xung phong đi chuyến này dù biết rằng vô cùng nguy hiểm. Mình cứ nghĩ đơn giản đi mươi ngày nửa tháng rồi về, vẫn còn kịp đi bộ đội. Ai ngờ...”. Và chuyến đi của ông đã kéo dài đến... 5 năm.

Ngày nay, từ Đông Hà ra Đồng Hới chạy trên QL1 khoảng chừng một tiếng rưỡi đồng hồ. Nhưng ngày ấy họ phải đi mất đến 9 tháng trời. Vậy là vào thời điểm khó khăn, ác liệt vào bậc nhất, đồng bào, chiến sĩ ở chiến trường Quảng Trị đã nhận được sự chi viện bằng tất cả tấm lòng và không tiếc máu xương của những người anh em Quảng Bình thân thiết.

Cảm tử quân ra đi…

Trước ngày lên đường, làng Cảnh Dương tổ chức lễ truy điệu sống cho những người con cảm tử vì Tổ quốc. Ai nấy xúc động, rưng rưng với lời nguyền quyết xả thân mình để hoàn thành nhiệm vụ. Hôm nay nhắc lại, nhiều người mắt vẫn đỏ hoe.

17 giờ ngày 12/1 âm lịch năm đó, đoàn thuyền xuất phát từ Cảnh Dương, lợi dụng gió mùa Đông Bắc cấp 5, cấp 6 và sương mù dày đặc. Rạng sáng hôm sau, đơn vị này đã đến Quảng Phú. Tại đây, Tỉnh đội Quảng Bình đón họ về nơi tập kết sau chặng đường đầu tiên xuôi chèo mát mái. Ông Trần Sự, Tỉnh đội trưởng đến thăm hỏi động viên, quán triệt nhiệm vụ lần này. Cấp trên rà soát lại các phương án đi đường, tác chiến, hậu cần, chuẩn bị ứng phó với mọi tình huống bất trắc có thể xảy ra. Đoàn thuyền nhận được 24 tấn vũ khí gồm đạn B.40, B.41, cối 82, thuốc nổ TNT, súng AK, CKC..., lương thực, thuốc men và vũ khí chiến đấu. Họ lại tiếp tục hành quân dưới lớp vỏ ngụy trang là các thuyền đánh cá. Gian khổ, nguy nan đang chực chờ trước mặt.

Xuất phát trong đêm tối, nương theo gió mùa Đông Bắc, sau một đêm vất vả, khẩn trương chịu đựng sóng to gió lớn bãi ngang, rạng ngày Rằm tháng Giêng, đoàn thuyền mới đến được Vũng Si-Vĩnh Linh (Quảng Trị). Đơn vị dừng chân, ngụy trang lại thuyền chờ trời tối lại đi nhưng đã bị địch phát hiện. Đối phương lập tức cho máy bay ném bom, tàu chiến bắn pháo cấp tập. Một thuyền bị chìm, mấy thuyền khác bị hỏng. Chỉ huy ra lệnh cứu hàng, trai tráng trong đoàn bất chấp hiểm nguy, băng ra cứu vũ khí, đạn dược.

Ông Nguyễn Văn Biểu - bên phải - kể chuyện về chuyến tàu cảm tử ngày ấy. Ảnh: Phạm Xuân Dũng
Ông Nguyễn Văn Biểu - bên phải - kể chuyện về chuyến tàu cảm tử ngày ấy. Ảnh: Phạm Xuân Dũng

Ở Vĩnh Linh họ lại được làm lễ truy điệu sống lần thứ hai. Ông Biểu nhớ lại: “Mới đụng trận đầu, đoàn chỉ còn lại 8 thuyền. Chi bộ họp khẩn cấp, hạ quyết tâm phải hoàn thành nhiệm vụ. Trước mắt là chặng đường nguy hiểm nhất, phải vượt qua vĩ tuyến 17, vượt qua Cửa Việt, nơi có một quân cảng đáng gờm của địch. Tình hình đã có thay đổi, còn 8 thuyền thì chỉ cần 48 người khỏe mạnh cùng đi, 20 người ở lại sửa thuyền, rồi tìm đường quay về”.

Địch đã phát hiện đoàn thuyền lạ nên tăng cường tuần tra. Ngoài khơi thì tàu chiến lùng sục đêm ngày, ven bờ thì ca nô tuần tiễu, trên trời máy bay quần đảo liên tục, tối đến là bắn pháo sáng để ngăn ngừa xâm nhập. Tình hình mỗi lúc một khó khăn. Đoàn thuyền cứ chờ đêm xuống ngậm tăm mà đi sát bờ men theo con sóng để tránh chạm địch. Qua được Cửa Tùng, mới vào đến Cát Sơn (xã Trung Giang, huyện Gio Linh) lại bị địch phát hiện. Đối phương cho tàu chiến ngoài khơi pha đèn, máy bay thả pháo sáng, rực một góc trời. Lại thêm tiếng loa gọi hàng, tiếng súng uy hiếp, siết chặt vòng vây hòng bắt sống đoàn thuyền vận tải. Cả đơn vị hội ý tìm cách đối phó. Đoàn thuyền chia thành hai hướng, mỗi hướng 4 thuyền. Hướng thứ nhất do các ông Nguyễn Ngọc Liên, Trần Em, Hồ Khắc Nông, Phạm Đờn chỉ huy tiến vòng ra khơi để tránh tàu địch, hướng thứ hai gồm 4 thuyền còn lại do các ông Đậu Thanh Long, Phạm Minh, Lê Lộc, Nguyễn Tường chỉ huy tiến sát gần bờ, lợi dụng bóng tối sóng ngả để vượt lên.

Hướng ra khơi do ông Phạm Đờn đi đầu khi vượt qua Cửa Việt bị địch phát hiện và lập tức cho ca nô rượt theo. Biết không qua được, ông Phạm Đờn cho đánh đắm thuyền, chấp nhận địch bắt người nhưng không thu được vũ khí. Ba chiếc đi sau phải quay lại Vĩnh Linh, giao vũ khí cho du kích. Lợi dụng địch đang bận vây bắt 4 thuyền ngoài khơi, 4 thuyền còn lại vượt qua cuộc truy đuổi ác liệt, cập bến tại địa bàn Quảng Trị. Họ bàn giao 10 tấn vũ khí cho quân dân nơi đây. Nhưng sau hôm đó, ông Hướng đã bị địch bắt trong một trận càn ở xã Triệu Vân, huyện Triệu Phong. Ông bị tra tấn dã man, đưa từ nhà tù Đà Nẵng ra Phú Quốc, đến sau Hiệp định Paris mới được trao trả bên sông Thạch Hãn. Vậy là ông đi 5 năm mới được trở về.

Ông Nguyễn Văn Biểu hồi tưởng: Đầu tháng 6/1968, thành viên đoàn thuyền cảm tử được lệnh lên trạm giao liên 205 Trường Sơn, tham gia chống càn, vận tải lương thực, tải thương. Rồi lại tiếp tục trèo đèo lội suối ròng rã gần một tháng trời qua tận đất Lào, theo đường Savannakhet - Đèo Mụ Dạ, Cha Lo - Bãi Dinh - La Trọng - Cổng Trời... những địa danh nổi tiếng trong chiến tranh. Mãi đến tháng 9 mới về được quê nhà.

(còn nữa)

Theo Phạm Xuân Dũng (TPO)

Có thể bạn quan tâm

Chị Djen giới thiệu những chùm răng rẽl vừa thu hái

Theo mùa răng rẽl

(GLO)- Mưa như trút nước xuống những cánh rừng ở xã Ðăk Sơmei sau nhiều tháng nắng khô khốc. Những cung đường rừng trơn như đổ mỡ, loang lổ vệt bánh xe máy trượt ngang. Thỉnh thoảng, giữa nền đường đỏ quạch sót lại vài chùm răng rẽl xanh mướt rơi vãi, dấu vết của những chuyến trở về từ rừng.

Ký ức không phai của nữ Anh hùng Kpă Ó

Ký ức không phai của nữ Anh hùng Kpă Ó

(GLO)- Chiến tranh đã lùi xa hơn nửa thế kỷ nhưng trong ngôi nhà nhỏ ở làng Bạc 1 (xã Chư Prông, tỉnh Gia Lai), ký ức về một thời hoa lửa vẫn vẹn nguyên qua từng câu chuyện của bà Kpă Ó - nữ Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân duy nhất ở khu vực phía Tây tỉnh trong cuộc kháng chiến chống Mỹ.

Chiếc a chói giữa rừng Trường Sơn

Chiếc a chói giữa rừng Trường Sơn

Dưới mái hiên nhà sàn ở xã La Lay (Quảng Trị), tiếng dao chẻ tre vang lên đều đặn giữa buổi sớm. Nghệ nhân Hồ Văn Thành ngồi bên bó mây vừa lấy từ rừng về. Ông tỉ mẩn đường dao chuốt từng sợi nan tre. Ở miền tây Quảng Trị, hình ảnh ấy không hiếm gặp...

Nghị lực phi thường của người thương binh hạng nặng Lê Thái Hà

Nghị lực phi thường của người thương binh hạng nặng Lê Thái Hà

(GLO)- Khi bị thương nặng tại chiến trường Campuchia, ông Lê Thái Hà (trú phường Bình Định, tỉnh Gia Lai) không nghĩ mình sẽ sống sót. Phục viên với sức khỏe suy giảm đến 91%, ông cũng từng không dám mơ đến những điều xa xôi về tương lai. Vậy mà người cựu chiến binh ấy đã can trường vượt qua tất cả.

4 ngày làm vợ, 54 năm đợi chờ

4 ngày làm vợ, 54 năm đợi chờ

Sau 54 năm kể từ ngày liệt sĩ Nguyễn Văn Đinh ngã xuống trên chiến trường Quảng Trị, bà Nguyễn Thị Ngọ (Nghệ An) mới được đứng trên mảnh đất ông hy sinh. Hành trình ấy khép lại nỗi khắc khoải của một người vợ, nhưng mở ra câu chuyện lay động về tình yêu, sự thủy chung không phai theo năm tháng.

'Bí kíp' nón ngựa nghĩa quân Tây Sơn

'Bí kíp' nón ngựa nghĩa quân Tây Sơn

Nghệ nhân ưu tú Đỗ Văn Lan (80 tuổi, ông Ba Lan) đang giữ nguyên vẹn “bí kíp” tổ truyền làm “nón ngựa Phú Gia” mà ngày xưa nghĩa quân Tây Sơn đội nắng mưa hành quân thần tốc. Những chiếc nón không chỉ như một tác phẩm nghệ thuật mà còn rất bền.

Nguyễn Vũ Mạnh Khang trở về trong sự chào đón nồng nhiệt. Ảnh: Hồ Điểm

Từ những câu hỏi về ánh sáng…

(GLO)- Giành huy chương bạc tại kỳ thi Olympic Vật lý châu Âu (EuPhO) 2026, Nguyễn Vũ Mạnh Khang, học sinh Trường THPT chuyên Lê Quý Ðôn (phường Quy Nhơn, tỉnh Gia Lai) góp phần cùng đội tuyển Việt Nam ghi dấu ấn tại sân chơi học thuật quốc tế.

Hành trình lạc lối sau giấc mơ đổi đời

Hành trình lạc lối sau giấc mơ đổi đời

(GLO)- Tin vào những lời hứa hẹn về cuộc sống sung túc và cơ hội định cư ở nước thứ ba, nhiều người dân ở Gia Lai đã vượt biên sang Thái Lan. Những tháng ngày sống chui lủi, thiếu thốn, ly tán là cái giá đắt cho lựa chọn sai lầm, đồng thời là lời cảnh tỉnh về hệ lụy của di cư trái phép.

Chợ ở Quy Nhơn xưa

Chợ ở Quy Nhơn xưa

Với vùng đất Quy Nhơn xưa (nay thuộc tỉnh Gia Lai), tìm hiểu những ngôi chợ cũ cũng là lần giở lại ký ức về quá trình hình thành và phát triển của một đô thị thương cảng, đặc biệt trên phương diện giao thương.

Khép lại cuộc chia ly sau 51 năm

Tìm lại người thân sau 51 năm lưu lạc trên đường 7

(GLO)- Năm 1975, giữa dòng người di tản trên đường 7 (nay là quốc lộ 25), cô bé Hồ Thị Diễm lạc mất gia đình và được người Jrai ở buôn Du (xã Ia Rsai, tỉnh Gia Lai) cưu mang, nuôi dưỡng. Hơn nửa thế kỷ sau, đứa trẻ lạc năm nào bất ngờ tìm lại được người thân nhờ một video trên YouTube.

Khi độc mộc trôi vào ký ức

Khi thuyền độc mộc trôi vào ký ức

(GLO)- Những con thuyền độc mộc thanh mảnh như chiếc lá từng nhẹ lướt trên dòng Pô Cô đã biến mất. Cảm giác tĩnh lặng xuôi dòng bị thay thế bởi tiếng thuyền máy. Bóng người chưa kịp in xuống đáy nước đã nhòa tan theo bọt sóng trắng xóa hai bên mạn thuyền.

Lính công binh hồi sinh những vùng đất chết

Lính công binh hồi sinh những vùng đất chết

(GLO)- Giữa những cánh rừng và triền núi của phường Bồng Sơn và xã An Toàn, nơi chiến tranh từng đi qua và để lại vô số vết thương, cán bộ, chiến sĩ Lữ đoàn Công binh 7 (Quân đoàn 34) đang lặng lẽ thực hiện nhiệm vụ rà phá bom mìn, trả lại sự an toàn cho đất đai và cuộc sống bình yên cho người dân.

Từ Tiên Nữ đến Núi Le C: Khát vọng xanh giữa trùng khơi

Từ Tiên Nữ đến Núi Le C: Khát vọng xanh giữa trùng khơi

(GLO)- Giữa biển trời Tổ quốc, cán bộ, chiến sĩ đảo Tiên Nữ và Núi Le C vẫn kiên cường bám biển, giữ đảo. Vượt qua nắng gió khắc nghiệt và thiếu thốn nơi đầu sóng, những người lính đảo đang lặng thầm vun đắp màu xanh sự sống, giữ vững chủ quyền thiêng liêng của biển đảo quê hương.

null