Dành trọn tuổi xuân cho học trò vùng biên

Theo dõi Báo Gia Lai trên Google News

(GLO)- Giữa miền biên viễn Ia Mơ, cô Nguyễn Thị Ánh Nguyệt-Giáo viên Trường Tiểu học và THCS Nguyễn Văn Trỗi vẫn ngày ngày miệt mài với công việc dạy học. 16 năm qua, cô dành trọn tuổi xuân cho học trò vùng biên.

Ban ngày, cô Nguyễn Thị Ánh Nguyệt đứng lớp, kiên nhẫn uốn nắn từng nét chữ đầu đời cho học trò. Chiều xuống, cô lại ghé từng nhà vận động học sinh đến lớp, tự học thêm tiếng Jrai để hiểu và gần các em hơn. Với tình yêu nghề và sự tận tâm, cô không chỉ là người dạy chữ, mà còn là người gieo niềm tin giữa bao gian khó nơi phên giậu Tổ quốc.

Cô giáo Nguyễn Thị Ánh Nguyệt là một trong hai giáo viên tiêu biểu của tỉnh Gia Lai được vinh danh trong chương trình “Chia sẻ cùng thầy cô” năm 2025, do Trung ương Hội LHTN Việt Nam phối hợp với Bộ Giáo dục và Đào tạo (GD&ĐT) cùng Tập đoàn Thiên Long tổ chức. Dự kiến tháng 11 tới, cô sẽ ra Hà Nội dự lễ tôn vinh.

“Đó là niềm vinh dự không chỉ của riêng tôi mà là của tập thể giáo viên nhà trường, của học trò và phụ huynh nơi đây. Bởi đằng sau mỗi danh hiệu là biết bao tấm lòng thầm lặng ngày ngày gieo chữ giữa gian khó”-cô giáo Nguyệt xúc động chia sẻ.

Cô Nguyệt chuẩn bị giáo án.
Cô Nguyệt chuẩn bị giáo án. Ảnh: P.D

Gian nan buổi đầu "gieo chữ"

Năm 2007, cô giáo trẻ Nguyễn Thị Ánh Nguyệt từ xã Tuy Phước Đông đến công tác tại Trường Tiểu học Phạm Hồng Thái (xã Ia Lâu). Quyết định ấy trở thành dấu mốc tuổi trẻ, khởi đầu hành trình "gieo chữ" nơi xa xôi.

“Ngày ấy, đường sá gập ghềnh toàn đất đỏ, mưa xuống thì trơn trượt, nắng lên lại bụi mù trời. Khu tập thể giáo viên thiếu thốn đủ bề, không có nước sinh hoạt, chúng tôi phải xin từng can nước của nhà dân về dùng. Đêm xuống, giữa rừng núi âm u, chỉ nghe tiếng gió và côn trùng rả rích, nhiều lúc nhớ nhà quay quắt”-cô Nguyệt bồi hồi.

Khi đó, con trai đầu lòng của cô mới 14 tháng tuổi, phải gửi lại cho ông bà nội, ngoại chăm sóc. “Phương tiện đi lại khó khăn, mỗi lần về thăm con phải qua nhiều chặng xe, có khi nửa đêm mới tới nhà. Con khóc, mẹ cũng khóc nhưng rồi lại tự nhủ phải cố gắng để không phụ niềm tin của học trò”-cô Nguyệt trải lòng. Hai năm sau, cô xin chuyển về Trường Tiểu học và THCS Nguyễn Văn Trỗi (xã Ia Mơ). Đây là ngôi trường vùng biên, tiếp giáp Vương quốc Campuchia.

Chồng cô, một công nhân cơ khí cũng xin về làm bảo vệ trường để được gần vợ. Cuộc sống ở vùng biên tuy còn khó khăn, thiếu thốn nhưng ấm áp tình người; gói ghém trong đó là tình yêu nghề, tình đồng nghiệp và cả tình cảm chân thành dành cho vùng đất mới.

Thường xuyên trò chuyện với học sinh và người dân, cô Nguyệt vừa mau chóng thạo tiếng Jrai, vừa dễ dàng nắm bắt tâm tư tình cảm của bà con hơn
Thường xuyên trò chuyện với học sinh và người dân, cô Nguyệt vừa mau chóng thạo tiếng Jrai, vừa dễ dàng nắm bắt tâm tư tình cảm của bà con hơn. Ảnh: P.D

Ở Ia Mơ, phần lớn học sinh là người Jrai, cuộc sống còn nhiều thiếu thốn. Là giáo viên trẻ, năm nào cô giáo Nguyệt cũng được phân công dạy lớp 1, lớp học đặc biệt với những học sinh lần đầu tiên cắp sách đến trường.

“Khi đó, tôi chưa biết tiếng Jrai nên việc giao tiếp gặp nhiều khó khăn. Học trò thì lạ cô, lạ lớp; có em được bố mẹ đưa đến lại khóc đòi về, có em mang theo cả em nhỏ vì cha mẹ đi rẫy. Giờ ra chơi, có em chạy về nhà ăn cơm rồi quên cả giờ vào lớp. Tôi phải đi tìm, thấy các em dắt tay nhau tung tăng trên đường, vừa thương vừa buồn cười”-cô Nguyệt cười hiền nhớ lại.

Không nản lòng, cô Nguyệt chủ động học tiếng Jrai từ đồng nghiệp và người dân trong làng để gần gũi, động viên học sinh. Mỗi tối, cô tranh thủ ghé nhà dân, ngồi bên bếp lửa nghe họ trò chuyện, nhờ dịch từng câu, từng chữ.

Cứ thế, ngôn ngữ ấy không chỉ là phương tiện giao tiếp mà trở thành sợi dây gắn bó cô với học trò, với cộng đồng. Khi hiểu được tiếng nói, cô cũng hiểu hơn tâm tư của các em, thấu hiểu được nỗi lo và niềm mong mỏi của phụ huynh.

Những năm đầu, khi công trình thủy lợi Ia Mơr khởi công, bà con hai làng Khôi và Hnap phải di dời đến khu tái định cư, trường học chưa kịp xây dựng. “Chúng tôi mượn lán trại bộ đội dựng tạm ven làng làm lớp học. Sáng sớm, giáo viên đến từng nhà gọi và dắt học trò ra lớp. Chúng tôi không chỉ dạy bằng con chữ mà bằng cả tình thương”-cô Nguyệt bộc bạch.

Có lẽ, với cô Nguyệt, dạy học ở vùng biên không chỉ là truyền đạt kiến thức mà còn là hành trình gieo niềm tin và hy vọng. Đó là những buổi chiều cùng đồng nghiệp đến từng nhà, lên tận nương rẫy vận động học sinh ra lớp; là những lần thay cha mẹ đưa học trò đi trạm xá, làm giấy tờ tùy thân…

“Nhiều em có hoàn cảnh khó khăn, cha mẹ đi làm xa, chúng tôi luôn cố gắng để trường lớp trở thành nơi các em thấy an toàn, thấy được yêu thương”-cô giáo Nguyệt nói.

Buổi tối cô Nguyễn Thị Ánh Nguyệt dành thời gian dạy xóa mù chữ cho người dân trong làng Hnap và Khôi.
Buổi tối, cô Nguyễn Thị Ánh Nguyệt dành thời gian dạy xóa mù chữ cho người dân làng Hnap và Khôi. Ảnh: NVCC

Giờ đây, nhiều học trò đã trưởng thành, cô Nguyệt vẫn miệt mài với bảng đen, phấn trắng. Và, niềm mong mỏi của cô vẫn giản dị như ngày đầu, ấy là mong học trò được học hành đến nơi đến chốn, có tri thức để thay đổi cuộc sống và dựng xây quê hương. Có như vậy thì mọi vất vả đều đáng giá!

Giữa tiếng gió đại ngàn hòa trong âm vang ê a của học trò, hình ảnh cô giáo Nguyệt nhỏ nhắn, giản dị trong tà áo dài bước đi giữa sân trường đầy nắng trở nên thật đẹp. Với học trò, cô là người mẹ hiền thứ hai.

Em Siu Khiết (lớp 2C) bẽn lẽn nói: “Em thương cô giáo chủ nhiệm như mẹ em vậy!”. Những lời ngây thơ ấy chính là món quà vô giá, là nguồn động viên lớn lao để những người gieo chữ như cô giáo Nguyệt tiếp tục hành trình thầm lặng của mình.

Trọn vẹn một tình yêu nghề

Khi mặt trời dần khuất sau những dãy núi, ánh điện bừng sáng trong từng mái nhà, cũng là lúc cô giáo Nguyệt lại chuẩn bị chiếc cặp quen thuộc, bên trong là giáo án và vài viên phấn trắng.

Ngoài giờ lên lớp ban ngày, buổi tối, cô dành thời gian dạy xóa mù chữ cho người dân trong làng. Năm 2024, cô tham gia dạy 2 lớp xóa mù ở làng Hnap và Khôi. Hiện nay, cô tiếp tục phụ trách hai lớp ở làng Klăh và Krông. Mỗi tuần hai buổi, từ 18 giờ 30 phút đến 21 giờ, cô dạy chữ cho các học viên ở nhiều độ tuổi khác nhau.

Nhìn những bàn tay chai sạn cẩn thận nắn nót từng nét chữ, cô kể giọng xúc động: “Ban ngày, bà con đi làm rẫy nên tối về ai cũng mệt, có người vừa học vừa ngủ gật. Nhưng khi thấy họ cố gắng, nhìn những khuôn mặt rạng rỡ khi lần đầu viết được tên mình, tôi xúc động lắm. Với họ, học chữ không chỉ là biết đọc, biết viết mà còn là mở ra cánh cửa mới trong cuộc sống”.

Không chỉ dạy chữ, cô giáo Nguyệt còn là người bạn thân thiết, gần gũi với bà con trong xã. Vào những chiều cuối tuần, cô ghé từng nhà hỏi thăm, động viên cha mẹ cho con đến lớp, dặn dò các em siêng năng học tập.

Bà Siu Blú (làng Hnáp) chia sẻ: “Cô giáo Nguyệt hiền và nhiệt tình lắm. Cô hay đến nhà trò chuyện, hỏi thăm sức khỏe, nhắc con cháu chúng tôi đi học. Cô giáo vui vẻ, ai cũng quý”.

Thầy Đinh Văn Phương-Hiệu trưởng Trường Tiểu học và THCS Nguyễn Văn Trỗi-nhận xét: “Cô Nguyệt gắn bó với trường từ năm 2009 đến nay. Dạy học sinh dân tộc thiểu số ở vùng biên vốn nhiều khó khăn, nhưng cô luôn kiên trì, tận tụy và thấu hiểu. Nhờ tình yêu nghề và lòng kiên nhẫn, các em tiến bộ từng ngày. Ngoài giờ lên lớp, cô còn tham gia dạy xóa mù chữ, vận động phụ huynh cho con đến trường, góp phần thu hẹp khoảng cách giữa giáo dục vùng biên và vùng thuận lợi”.

Khi được hỏi điều gì đã níu giữ cô suốt ngần ấy năm nơi biên giới, cô giáo Nguyệt khẽ cười: “Có lẽ vì tôi yêu nơi này, thương ánh mắt học trò trong veo; thương những con người thật thà, chất phác mà tôi đã gắn bó suốt tuổi trẻ. Ở đây, dù còn nhiều thiếu thốn nhưng luôn chan chứa tình người”.

Bằng trái tim đầy yêu thương và lòng tận tụy, cô giáo Nguyệt đã viết nên câu chuyện đẹp về người gieo chữ nơi biên viễn.

Có thể bạn quan tâm

Một góc trung tâm xã Kon Chiêng.

Đánh thức Kon Chiêng

(GLO)- Từ quốc lộ 19 rẽ vào tỉnh lộ 666 khoảng 40 km thì đến xã Kon Chiêng. Hai bên đường là những triền mía xanh mát, thấp thoáng những mái nhà sàn trong không gian xanh thẳm của núi rừng, gợi về một Kon Chiêng đang vươn mình đổi thay.

Những chiếc bè nuôi thủy sản của ngư dân bị sóng đánh vỡ tan, trôi dạt ven biển.

Xác xơ làng chài sau cơn bão dữ...

(GLO)-Sau cơn bão dữ Kalmaegi (bão số 13), những làng chài vốn yên bình, đầy sinh khí bỗng chốc trở nên xác xơ, trơ trọi và ngổn ngang chỉ sau vài giờ bão quét qua. Cảnh quan rồi sẽ dần hồi phục, nhưng những mất mát, tổn thất vẫn sẽ đè trĩu trên đôi vai người dân ven biển rất lâu nữa...

Cảnh hoang tàn, đổ nát ở làng chài Nhơn Lý, Gia Lai. Ảnh: Đức Nhật

Gượng dậy sau bão

Bão Kalmaegi (bão số 13) đã tan, trên dải đất ven biển Gia Lai, Đắk Lắk, người dân lặng lẽ nhặt lại từng tấm tôn, viên ngói, gom góp chút bình yên từ đống hoang tàn.

Giữa tầng mây giữ trời

Giữa tầng mây giữ trời

(GLO)- Đỉnh Hàm Rồng cao hơn 1.000 m so với mực nước biển. Sườn núi sương mờ bao phủ này là nơi cán bộ, chiến sĩ Đài Quan sát thuộc Đại đội Thông tin (Phòng Tham mưu, Lữ đoàn Pháo phòng không 234, Quân đoàn 34) đồn trú.

Sống chậm với đĩa than trong thời đại số - Kỳ 1: Sự hồi sinh của dòng đĩa Vinyl

Sống chậm với đĩa than trong thời đại số - Kỳ 1: Sự hồi sinh của dòng đĩa Vinyl

Trong thời đại mà một thiết bị đeo tay có thể chứa đến 60 triệu bài hát, việc lựa chọn nghe nhạc từ một chiếc đĩa than tưởng như là lỗi thời. Nhưng thực tế, đó lại là biểu hiện của một xu thế tìm lại sự nguyên bản, chậm rãi và thật lòng trong trải nghiệm thưởng thức.

Sợi tơ mong manh kết nối trăm năm

Sợi tơ mong manh kết nối trăm năm

Khi nói đến sưu tầm đồ cổ ở Việt Nam, người ta thường nghe tới đồ gốm, sành sứ, hay đồ gỗ… chứ ít ai biết đến những món đồ vải mà qua đó thể hiện tay nghề thêu huy hoàng, vang danh thế giới của người Việt hàng trăm năm trước.

Người lưu giữ hàng trăm “báu vật” Chư A Thai

Người lưu giữ hàng trăm “báu vật” Chư A Thai

(GLO)- Ở xã Chư A Thai (tỉnh Gia Lai), có một người đàn ông gắn bó cả cuộc đời với những “ký ức triệu năm” còn sót lại dưới lòng đất. Gần 25 năm qua, ông Rcom Sin đã lặng lẽ sưu tầm và trân trọng gìn giữ rất nhiều khối gỗ hóa thạch kết tinh của đất trời.

Sê San: Sông kể chuyện đời…

Sê San: Sông kể chuyện đời…

(GLO)- Dòng Sê San miệt mài chở nặng phù sa; sóng nước bồng bềnh không chỉ kể câu chuyện mưu sinh, bảo vệ phên giậu, mà còn gợi mở tương lai phát triển bền vững, góp phần khẳng định vị thế của vùng biên trong hành trình dựng xây quê hương, đất nước.

Thôn Lao Đu giữa bát ngát núi rừng Trường Sơn

Lao Đu đã hết lao đao

Nằm bên đường Hồ Chí Minh huyền thoại, cuộc sống của hơn 150 hộ dân thôn Lao Đu, xã Khâm Đức, TP Đà Nẵng nay đã đổi thay, ngôi làng trở thành điểm du lịch cộng đồng giữa bát ngát núi rừng. 

Bền bỉ gieo yêu thương nơi vùng đất khó

Bền bỉ gieo yêu thương nơi vùng đất khó

(GLO)- Giữa bao thiếu thốn của vùng đất Pờ Tó, có một người thầy lặng lẽ, bền bỉ gieo yêu thương cho học trò nghèo. Thầy không chỉ dạy chữ mà còn khởi xướng nhiều mô hình sẻ chia đầy ý nghĩa như: “Tủ bánh mì 0 đồng”, “Mái ấm cho em”, “Trao sinh kế cho học trò nghèo”.

Trung tá Cao Tấn Vân (thứ 2 từ phải sang)-Phó Đội trưởng Phòng An ninh đối ngoại (Công an tỉnh Gia Lai) chụp ảnh cùng đồng đội. Ảnh: NVCC

Cống hiến thầm lặng vì sứ mệnh cao cả

(GLO)- Hành trình "gieo hạt" hòa bình bắt đầu từ những con người bình dị. Những cống hiến thầm lặng của họ vì sứ mệnh cao cả, góp phần tích cực đưa hình ảnh đất nước và con người Việt Nam yêu chuộng hòa bình đến bạn bè quốc tế.

null