50 năm - những kí ức cho ngày thống nhất đất nước - Bài 5: Chuyện về người chiến sĩ nhiều lần cảm tử, góp công giải phóng miền Nam

Theo dõi Báo Gia Lai trên Google News

Phải hẹn rất nhiều lần, tôi mới gặp được người cựu chiến binh, Đại uý Nguyễn Đức Trọng (SN 1956, quê quán xã Long Thành, huyện Yên Thành, Nghệ An, người góp công cùng đồng đội tham gia giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.

Ông cũng là người xuất hiện trong xe tăng của quân ta tấn công vào Dinh Độc Lập cách đây 50 năm.

Vượt gian nan để đến ngày giải phóng

Sinh trưởng trong một gia đình nông dân ở huyện Yên Thành, gia đình Đại úy Nguyễn Đức Trọng có 8 anh, chị, em. Từ nhỏ, ông Trọng đã được đấng sinh thành hun đúc tinh thần đánh giặc qua những câu chuyện, bài hát về truyền thống cách mạng của quân và dân ta. Cha mẹ và chị gái của ông cũng cùng người dân cả nước kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ. Bên cạnh việc nỗ lực đèn sách, ông Trọng còn phụ giúp gia đình làm ruộng. Đến tuổi trưởng thành, ông càng nhận thức rõ hơn hành động của mình rằng, phải tham gia quân ngũ để góp sức giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.

Bên ấm trà nóng, trong kí ức của ngày giải phóng, Đại úy Nguyễn Đức Trọng kể: “Khi vừa tròn 18 tuổi, được lệnh tổng động viên của Nhà nước, tôi đành gác lại việc học của mình để hăng hái lên đường nhập ngũ. Từ bé, hình ảnh đẹp về người Bộ đội Cụ Hồ luôn hiện hữu trong tâm trí khiến tôi nhiều đêm thao thức không thể chợp mắt. Tôi chỉ mong mau trưởng thành để được ra trận, góp mình đánh đuổi quân xâm lược. Khi tôi nhập ngũ, cha mẹ ở nhà vừa tham gia sản xuất cung cấp lương thực, thực phẩm cho tiền tuyến, vừa tham gia dân công hỏa tuyến”.

Đại uý Nguyễn Đức Trọng (ngoài cùng bên phải) cùng đồng đội trên xe tăng tấn công vào Dinh Độc Lập.
Đại uý Nguyễn Đức Trọng (ngoài cùng bên phải) cùng đồng đội trên xe tăng tấn công vào Dinh Độc Lập.

Sau hơn 3 tháng huấn luyện tân binh, vào tháng 7/1974, Nguyễn Đức Trọng vào Quảng Nam - Đà Nẵng tham gia chiến dịch Thượng Đức. Đây là một trận đánh quan trọng trong Chiến dịch Tây Nguyên thời kỳ Kháng chiến chống Mỹ, diễn ra từ tháng 7 đến tháng 11/1974, tại huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam. Cũng là một trong những trận đánh lớn giữa Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam và Quân lực Việt Nam Cộng hòa, được coi là bước thử nghiệm quan trọng trước Chiến dịch Hồ Chí Minh năm 1975.

Đại úy Trọng cho biết, Thượng Đức là một quận lỵ nhỏ nhưng có vị trí chiến lược quan trọng, được ví như “cánh cửa thép” bảo vệ Đà Nẵng từ hướng Tây. Quân đội Việt Nam Cộng hòa đã xây dựng ở đây một cụm cứ điểm mạnh với nhiều công sự kiên cố. Để chuẩn bị cho cuộc Tổng tiến công năm 1975, Quân Giải phóng quyết định mở chiến dịch đánh chiếm Thượng Đức, nhằm kiểm tra sức mạnh tác chiến của các đơn vị chủ lực và thu hút lực lượng địch khỏi Tây Nguyên. Đến đầu tháng 11, Thượng Đức hoàn toàn thuộc quyền kiểm soát của Quân Giải phóng.

Ông Nguyễn Đức Trọng.
Ông Nguyễn Đức Trọng.

“Trong thời gian tham gia chiến dịch trên, nhiều lần tôi may mắn thoát chết trong gang tấc. Một lần, tôi cùng đồng đội vác cây gỗ làm hầm chữ A trên chốt, thì bị quân địch bất ngờ giội pháo quyết liệt khiến chúng tôi bất tỉnh. Khi tỉnh dậy, tôi thấy mình bị thương nhẹ trên người. Một lần khác, tôi được phân công trực gác từ 2h đến 4h sáng ngày hôm sau. Khi tôi vừa hết ca thì quân địch đánh pháo bất ngờ lúc rạng sáng, khiến đồng đội của tôi là đồng chí Nguyễn Xuân Đài, Tiểu Đội trưởng hy sinh. Tiếp đó, trong lần tôi cùng đồng đội kéo pháo lúc 4 giờ sáng, thì bất ngờ quả mìn chống tăng nổ gần khiến đồng chí Trần Hữu Chiến, Tiểu đoàn phó hy sinh…”, Đại úy Trọng rơm rớm nước mắt, nhớ lại.

Suốt chiến dịch, Đại úy Nguyễn Đức Trọng cùng đồng đội thường xuyên ngủ hầm, ăn uống với lương khô, rau rừng. Nhiều đồng đội của ông bị sốt rét rừng, bệnh nặng và hy sinh. “Dù khó khăn, gian khổ hiểm nguy nhưng cũng không làm nản lòng ý chí chiến đấu, mà còn khiến những người lính này kiên cường chiến đấu và chiến thắng. Qua đó, quân ta đã loại khỏi vòng chiến đấu hàng chục ngàn tên địch, mở rộng vùng giải phóng Khu vực Nông Sơn – Trung Phước, Thượng Đức và vùng Tây Nam Quế Sơn, Tây Bắc Tam Kỳ với 117.000 dân”, Đại uý Nguyễn Đức Trọng kể.

Tháng 12/1974, Đại úy Nguyễn Đức Trọng cùng đồng đội tham gia đánh trận Khe Tre. Đây là một vị trí chiến lược thuộc huyện Nam Đông, tỉnh Thừa Thiên – Huế. Khu vực này rừng núi hiểm trở, giữ vai trò quan trọng trong việc kiểm soát hành lang giữa miền núi và đồng bằng ven biển. Khi đó, Đại úy Trọng được phân công bộ đội hỏa lực chi viện cho bộ binh đánh trước, yểm trợ trong thời gian 1 ngày từ Khe Tre xuống Đại Lộc. Ông cùng đồng đội kéo pháo lên Núi Truồi dùng hỏa lực đã phá hàng chục lô cốt của địch để bộ binh và xe tăng vượt đèo xuống Huế. Tiếp đó, ông cùng đồng đội được phân công nhiệm vụ dò mìn cho xe tăng di chuyển xuống Đà Nẵng và giải phóng địa phương này vào trưa 29/3. “Trong lần hành quân đó, nhiều đồng đội đã anh dũng hy sinh do gặp phải mìn của quân địch…”- Đại úy Trọng xúc động.

Thần tốc tiến vào giải phóng Sài Gòn

Đến tháng 3/1975, sau 7 ngày hành quân thần tốc với xe tăng và xe tải, men theo quốc lộ 1A, Đại úy Nguyễn Đức Trọng cùng đồng đội vào đánh Tuy Hòa. Sau đó, giải phóng Phú Yên vào ngày 1/4/1975. Đây là trận đánh quan trọng giúp Quân Giải phóng kiểm soát hoàn toàn tỉnh Phú Yên, mở đường tiến vào Nam Trung Bộ. “Khoảng 23h một ngày cuối tháng 3/1975, chúng tôi được phân công nhiệm vụ trinh sát mở đường. Gần đến Phan Rang (Ninh Thuận) thì phát hiện đèn pha của quân địch. Lập tức, tôi cùng đồng đội tấp ngay xe vào lề, xuống cống tôn bên đường trú ẩn. Trong đêm quân địch liên tiếp giội bom pháo kích, nhưng chúng tôi vẫn an toàn…

Quân chủ lực của ta sau đó đã có mặt đánh tan quân địch. Đến ngày 14 và 15/4/1975, Quân Giải phóng dùng pháo binh và đặc công tấn công các vị trí phòng thủ quanh Phan Rang, khiến Quân đội Việt Nam Cộng hòa hoang mang. Ngày 16/4/1975, Sư đoàn 325 và Sư đoàn 3 của Quân Giải phóng mở đợt tấn công chính, đánh vào trung tâm thị xã Phan Rang. Lực lượng Quân đội Việt Nam Cộng hòa chống trả quyết liệt nhưng nhanh chóng bị áp đảo. Ngày 17/4/1975, toàn bộ hệ thống phòng thủ của Quân đội Việt Nam Cộng hòa bị vỡ, nhiều sĩ quan cao cấp bị bắt”, Đại úy Trọng kể.

Ông Trọng cùng đồng đội thắp hương và chụp ảnh lưu niệm trước bàn thờ Liệt sĩ Nguyễn Xuân Đài.
Ông Trọng cùng đồng đội thắp hương và chụp ảnh lưu niệm trước bàn thờ Liệt sĩ Nguyễn Xuân Đài.

Đến ngày 18/4/1975, Đại úy Trọng cùng đồng đội đánh Phan Thiết. Khi đó, ông được phân công nhiệm vụ dò mìn dưới chân cầu khoảng 10m và đoạn đường phía trước để bộ binh, xe tăng đi qua. Trong lần này, ông Trọng cũng suýt hy sinh nếu không được đồng đội yểm trợ phía sau. Đến 23h, quân ta đã làm chủ Phan Thiết. Ngày 26/4/1975, Quân Giải phóng mở cuộc tấn công vào Biên Hòa, Long Bình, Trảng Bom, phá vỡ hệ thống phòng thủ của địch. Ngày 27 và 28/4/1975, quân địch hoang mang, bỏ chạy về phía Sài Gòn. Sân bay Biên Hòa bị pháo kích khiến hoạt động không quân tê liệt.

“Ngày 29/4/1975, Quân Giải phóng kiểm soát hoàn toàn Biên Hòa và toàn tỉnh Đồng Nai. Các đơn vị tiếp tục truy kích, quân địch rút chạy về Sài Gòn. Trong trận đánh tại Đồng Nai, có 7 đồng đội của tôi anh dũng hy sinh. Đến ngày 30/4/1975, chúng tôi đánh Cát Lái, để vượt cầu Sài Gòn. Khi đó, chỉ bộ binh và xe tăng tác chiến. Tại khu vực cầu Sài Gòn, đồng chí tiểu đoàn trưởng đã hy sinh. Sau đó, chúng tôi đã điều khiển xe tăng tấn công vào trung tâm Sài Gòn và cắm cờ trên Dinh Độc Lập lúc 11h30’ cùng ngày…”, Đại uý Nguyễn Đức Trọng nhớ lại thời khắc lịch sử hào hùng và hạnh phúc.

Nói về kỷ niệm ngày chiến thắng, Đại úy Nguyễn Đức Trọng xúc động: “Khi đó, đồng đội của tôi cắm cờ trên Dinh Độc Lập. Trong ánh mắt của các chiến sĩ tràn ngập niềm vui sướng, hạnh phúc về ngày giải phóng đất nước. Tôi ra phía trước cửa của Dinh Độc Lập thì người dân đến đông đúc để chúc mừng Quân Giải phóng. Người thì ôm, người tặng hoa và mang theo đồ ăn, thức uống để tặng cho bộ đội. Một số người dân thì hát bài Quốc ca để chúc mừng ngày chiến thắng, khiến ai nấy đều vui mừng, xúc động…”.

Ghi nhận thành tích anh dũng trong chiến đấu, Đại úy Nguyễn Đức Trọng vinh dự được Đảng, Nhà nước tặng thưởng nhiều Huân, Huy chương và Bằng khen cao quý, vì góp công tham gia giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.

Theo Nguyễn Đức Mừng (CANDO)

Có thể bạn quan tâm

Mùa săn kiến vàng

Mùa săn kiến vàng ở cao nguyên Gia Lai

(GLO)- Khi mùa khô phủ nắng lên những cánh rừng phía Tây Gia Lai, người Jrai bước vào mùa săn kiến vàng. Hành trình tìm kiếm những tổ kiến tuy nhọc nhằn nhưng cũng thú vị, thể hiện sự gắn bó giữa đồng bào dân tộc thiểu số với thiên nhiên từ xưa đến nay.

Ngày mới bên sông Pô Cô

E-magazine Ngày mới bên sông Pô Cô

(GLO)- Sớm mai ở Ia Krái, dòng Pô Cô uốn lượn như dải lụa bạc giữa mênh mông cây cối. Nước sông lăn tăn, gợn sóng nhỏ vỗ vào bãi cát vàng, len qua vườn rẫy, tạo thành một bản hòa ca của thiên nhiên và con người.

Giữ cây thuốc quý giữa đại ngàn An Toàn

Giữ cây thuốc quý giữa đại ngàn An Toàn

(GLO)- Tự xa xưa người Bahnar ở đại ngàn An Toàn (tỉnh Gia Lai) đã biết sử dụng nhiều loài cây rừng để làm thuốc chữa bệnh. Kinh nghiệm được chắt lọc qua nhiều thế hệ, không chỉ chăm sóc sức khỏe cộng đồng mà còn thể hiện sự am hiểu sâu sắc về tự nhiên, góp phần gìn giữ giá trị y học dân gian.

Xây dựng thế trận lòng dân nơi tà đạo "Hà Mòn" đi qua - Kỳ cuối: Xây dựng thế trận lòng dân- tường lửa ngăn tà đạo

E-magazine Xây dựng thế trận lòng dân nơi tà đạo "Hà Mòn" đi qua - Kỳ cuối: Xây dựng thế trận lòng dân- tường lửa ngăn tà đạo

(GLO)- Ba đối tượng cốt cán cuối cùng của tà đạo “Hà Mòn” bị bắt giữ tại khu vực núi Jơ Mông (giáp ranh xã Hra và xã Lơ Pang) vào ngày 19-3-2020 đã đánh dấu bước ngoặt quan trọng, khép lại hành trình đấu tranh kéo dài hơn một thập kỷ.

'Sói biển' Lý Sơn và hành trình nối biển ra Hoàng Sa

'Sói biển' Lý Sơn và hành trình nối biển ra Hoàng Sa

Ở đặc khu Lý Sơn (Quảng Ngãi), lão ngư Dương Minh Thạnh được nhiều ngư dân gọi là “lão ngư Hoàng Sa” bởi có công “nối biển” Lý Sơn ra quần đảo Hoàng Sa. Ông còn được mệnh danh là “sói biển” Lý Sơn, bởi sức vươn khơi dẻo dai, từng 5 lần thoát chết thần kỳ giữa bão biển.

Thúng chai lên phố

Thúng chai lên phố

Nghề đan thuyền thúng bằng tre (thúng chai) dùng để đi biển đánh bắt hải sản sau hàng trăm năm giờ đang dần mai một. Những ngư dân miền Trung vẫn âm thầm bám nghề bằng tình yêu mưa nắng đời người, và ngày càng nhiều những chiếc thúng chai rời biển về phố làm du lịch.

Những chuyện tình xuyên biên giới ở Ia O

Những chuyện tình xuyên biên giới ở Ia O

(GLO)- Trên vùng biên Ia O (tỉnh Gia Lai), dòng Pô Cô vừa là ranh giới tự nhiên, vừa là nhịp cầu kết nối lương duyên. Từ những lần qua lại thăm thân, dự lễ hội, nhiều mối tình nảy nở, hình thành nên những mái ấm xuyên biên giới bình dị, bền bỉ, góp phần dệt nên diện mạo riêng nơi phên giậu Tổ quốc.

Làng bồng bềnh trên dòng Pô Kô

Làng bồng bềnh trên dòng Pô Kô

Giữa miền biên viễn phía tây Gia Lai, trên dòng Pô Kô hùng vĩ, hàng chục gia đình từ Tây Nam bộ tìm đến lập nghiệp, dựng nên những căn nhà nổi chông chênh giữa sóng nước. Cuộc mưu sinh lặng lẽ thể hiện nghị lực của con người, ý chí bám trụ và khát vọng sống chan hòa cùng sông nước.

Bấp bênh xóm chài vùng biên

Bấp bênh xóm chài vùng biên

(GLO)- Xóm chài trên mặt hồ thủy điện Sê San (làng Tăng, xã Ia O) hiện có 17 hộ với 58 nhân khẩu, đến từ các tỉnh ở miền Đông Nam Bộ và Tây Nam Bộ. Không đất ở, thiếu giấy tờ tùy thân, họ tự dựng nhà bè, bám lấy con nước để mưu sinh.

Đêm đập trống dưới ánh trăng rừng

Đêm đập trống dưới ánh trăng rừng

Giữa vùng lõi của Vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng, nơi núi đá vôi dựng đứng như những bức tường thành và rừng già nối tiếp đến tận biên Việt - Lào, có một lễ hội mà mỗi nhịp trống vang lên dường như làm nghiêng ngả cả đại ngàn: Lễ hội Đập trống của người Ma Coong.

'Rừng thiêng' giữa đại ngàn

'Rừng thiêng' giữa đại ngàn

Giữa đại ngàn Trường Sơn hùng vĩ, nơi mây trắng quấn quýt những đỉnh núi của vùng cao Đà Nẵng, có một cánh rừng không chỉ xanh bởi lá, mà còn xanh bởi ký ức. Người dân gọi đó là 'rừng bác Năm Công'.

Cán bộ trại giam động viên, chia sẻ với phạm nhân.

Tình người sau cánh cổng trại giam

(GLO)- Từ những câu chuyện rất thật của người trong cuộc, có thể thấy tính nhân văn trong công tác giáo dục, cải tạo phạm nhân tại Trại tạm giam số 1, Công an tỉnh Gia Lai. Đó là nơi cán bộ, chiến sĩ đang kiên trì cảm hóa những người lầm lỗi bằng trách nhiệm và lòng nhân ái.

Vị linh mục hiến kế chống Pháp

Vị linh mục hiến kế chống Pháp

(GLO)- “Chuyện giặc Pháp xâm lăng ngang ngược, xin ra lịnh cho người có đạo giúp nước lập công, ai phản nghịch sẽ giết cả họ. Kẻ có đạo dù có thịt nát xương tan cũng cố báo đền ơn nước, quyết chẳng hai lòng”.

null