50 năm - những kí ức cho ngày thống nhất đất nước - Bài 4: 'Địch đánh núi Dinh thành vôi, các đồng chí sẽ thành tượng đá'

Theo dõi Báo Gia Lai trên Google News

Khi ấy, có lúc nguy nan, đồng chí Phó Chính ủy Trung đoàn 812, Đại tá Nguyễn Văn Tý động viên chúng tôi: Bọn địch đánh núi Dinh thành vôi, các đồng chí sẽ thành tượng đá. Dù sống hay chết, chúng ta đều là những anh hùng của dân tộc này!.., ông Nguyễn Công Binh nhớ lại.

Năm 1971, cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước bước vào giai đoạn khốc liệt, thanh niên Nguyễn Công Binh (ngụ xã Hồng Phong, huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương) xung phong lên đường nhập ngũ khi vừa sang tuổi 19. Sau 3 tháng huấn luyện, ngày 16/12/1972, anh cùng đồng đội được lệnh hành quân vào chiến trường Quân khu 6.

Cán bộ, chiến sĩ Quân đội tham quan tại triển lãm 50 năm giải phóng Đà Lạt.
Cán bộ, chiến sĩ Quân đội tham quan tại triển lãm 50 năm giải phóng Đà Lạt.

Lúc bấy giờ, địch kiểm soát rất chặt các tuyến giao thông huyết mạch ở đồng bằng. Cách duy nhất để anh và đồng đội tới được chiến trường là chọn rừng sâu để bí mật hành quân. Dù vậy, hằng ngày địch vẫn dùng máy bay trinh sát, ném bom bừa bãi và rải truyền đơn, đánh "tâm lý chiến" nhằm làm nhụt ý chí chiến đấu của quân ta. Lương thực thiếu thốn, cơm không đủ ăn, những chiến sĩ quả cảm, tuổi đời mới chỉ mười tám đôi mươi của miền Bắc xa xôi dọc đường vào chiến trường phải chia nhau từng giọt nước uống.

Chính nắm rau rừng, con cá suối nơi thâm sâu cùng cốc đã nuôi nấng các chiến binh anh hùng, làm nên những trận đánh oanh liệt về sau. Gian khổ là thế nhưng bộ đội Trường Sơn khi ấy vẫn truyền tai nhau 3 câu thơ, xem gian khổ, hiểm nguy như một cuộc rong chơi của tuổi trẻ hào hoa: "Qua đỉnh Trường Sơn có lúc ngơi/Ai lên trước báo hộ ông Trời/Trên đường đánh Mỹ ghé qua chơi!..

Tháng 3/1973, chiến sĩ Nguyễn Công Binh cùng đồng đội đặt chân tới vùng rừng núi thuộc huyện Hàm Thuận Nam, tỉnh Bình Thuận ngày nay. "Đây là giai đoạn cực kỳ khốc liệt. Mỹ - ngụy liên tục mở các mặt trận mới nhằm chiếm ưu thế trên chiến trường. Chúng còn tăng cường ném bom, đánh phá miền Bắc nhằm ép ta phải ký vào Hiệp định Paris với những điều khoản có lợi cho chúng!..", ông Nguyễn Công Binh kể lại.

Hiệp định Paris vừa có hiệu lực, Nguyễn Văn Thiệu tuyên bố không thi hành Hiệp định và đưa ra khẩu hiệu "4 không" (không có hòa bình, không có ngừng bắn, không có giải pháp chính trị, không có tổng tuyển cử). Ở Bình Thuận, Bình Tuy, địch xua quân lấn chiếm những nơi ta vừa giành được, đồng thời ném bom đánh phá, hủy diệt một số nơi.

Ông Nguyễn Công Binh còn nhớ như in trận đánh mở màn trong đời quân ngũ của mình tại Tân Điền (Bình Thuận). Đó là trận đánh khốc liệt, đầy khó khăn với ta. Đây cũng là lần đầu tiên ông Binh cảm nhận rõ ràng ranh giới mong manh giữa sự sống và cái chết trên chiến trường. Có khi lúc ăn cơm, đồng đội vẫn còn quây quần đông đủ, trò chuyện vui vẻ nhưng chỉ ít phút sau, khi súng vang bom rền đã âm dương cách biệt, kẻ còn người mất. Sống và chết trên chiến trường chỉ cách nhau một viên đạn nhưng ai cũng xem nhiệm vụ cầm súng chiến đấu, giải phóng miền Nam là niềm tự hào. Các anh xem cái chết nhẹ tựa lông hồng, Tổ quốc sống còn mới là điều thiêng liêng, cao cả.

"Nếu so sánh tương quan lực lượng giữa hai bên, ta và địch được ví như trứng chọi đá. Quân địch không chỉ đông gấp nhiều lần quân ta, mà khí tài còn rất hiện đại. Nhưng cái địch không có là tinh thần chiến đấu. Về phần này, ta hơn hẳn!.. Chúng tôi chiến đấu vì lý tưởng cao cả, sẵn sàng hy sinh tới người cuối cùng!..", ông Binh cho biết.

Trước tương quan lực lượng giữa hai bên, ta chủ động lối đánh du kích theo phương châm lấy ít địch nhiều, lấy yếu đánh mạnh. Quân ta chia nhỏ lực lượng, tấn công quân địch tại Tân Điền từ 3 mũi. Trận chiến xảy ra khốc liệt, kéo dài nhiều ngày. "Quân địch bị ta tập kích, gây thương vong lớn. Rất nhiều chiến sĩ của ta đã dũng cảm hy sinh. Khi địch tăng cường quân viện trợ, ta chủ động rút vào rừng sâu để bảo toàn lực lượng!..", ông Binh kể.

Đại tá Nguyễn Công Binh, người cùng đồng đội tham gia chiến dịch giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.
Đại tá Nguyễn Công Binh, người cùng đồng đội tham gia chiến dịch giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.

Năm 1973, nhiều chiến dịch lớn bắt đầu nổ ra, lực lượng của các Quân đoàn từ miền Bắc được tăng cường vào chiến trường miền Nam. Trong kế hoạch hoạch 1974-1975, Bộ Tư lệnh Miền giao nhiệm vụ cho Quân khu 6 kết hợp với Quân khu 7 giải phóng 2 huyện Hoài Đức và Tánh Linh của Bình Tuy, góp phần hoàn chỉnh căn cứ miền Đông Nam Bộ. Hoài Đức và Tánh Linh là 2 địa bàn có ý nghĩa quan trọng về mặt chiến lược do các mối liên quan chặt chẽ với miền Đông Nam Bộ và Nam Tây Nguyên. Làm chủ được vùng này sẽ góp phần chia cắt được quân khu 2 và 3 của địch, xác lập bàn đạp để bao vây tiến công Sài Gòn từ hướng Đông. Chiến sĩ Nguyễn Công Binh được điều động về Tiểu đoàn 840, Trung đoàn 812, Quân khu 6.

Cuối tháng 3/1974, Tiểu đoàn 840 được lệnh phối hợp với các đơn vị của Quân khu 6 và Quân khu 7 cùng lực lượng bộ đội địa phương đánh vào cứ điểm đồi Lồ Ồ, mở màn chiến dịch Tánh Linh - Hoài Đức. Ban chỉ huy chiến dịch quyết định dùng lối đánh "bóc vỏ" để bao vây, cô lập và sau đó dùng các mũi đột phá bằng đặc công và bộ binh để dứt điểm chi khu. Cứ điểm Lồ Ồ là một đỉnh cao then chốt, có lợi thế khống chế cả khu vực xung quanh và bảo vệ trực tiếp cho chi khu Tánh Linh.

Chính vì vậy, cả ta và địch đều cố gắng chiếm giữ cao điểm này để làm bàn đạp tấn công các mục tiêu của nhau. Thực hiện chủ trương trên và nhiệm vụ của Bộ Tư lệnh Miền giao, Khu ủy và Bộ Tư lệnh Quân khu 6 đã hạ quyết tâm tiêu diệt địch ở chi khu Hoài Đức trong thời gian ngắn nhất, sau đó đưa toàn bộ lực lượng lên đường 20 phối hợp với chủ lực của Miền phát triển về hướng Tây Nguyên. 23h ngày 16/3/1975, ta tấn công chi khu Hoài Đức, tới ngày 23/3 thì toàn bộ Hoài Đức được giải phóng.

Chiến sĩ Nguyễn Công Binh và đồng đội được lệnh hành quân ngược lên Tuyên Đức - Lâm Đồng phối hợp với Sư 10, Quân đoàn 3 từ Tây Nguyên sang, chiến đấu giải phóng hoàn toàn Di Linh ngày 28/3/1975. Địch tháo chạy theo đường 20 về hướng Sài Gòn. Quân ta được lệnh ngược lên giải phóng Đà Lạt. Khi tới sông Đa Nhim thì cầu đã bị địch đánh sập. Người dân địa phương dùng thuyền chở quân giải phóng qua sông, tiến thẳng lên đánh chiếm, tiếp quản và giải phóng hoàn toàn thị xã Đà Lạt ngày 3/4/1975.

Giải phóng xong Đà Lạt, chiến sĩ Nguyễn Công Binh cùng đồng đội lại xuôi về Bình Thuận, phối hợp với các đơn vị khác, chiến đấu anh dũng tại cầu Phú Long, cửa ngõ TP Phan Thiết. Ta và địch quần thảo ác liệt. Hỏa lực địch trút xuống không ngừng với các máy bay ném bom và súng cối hạng nặng từ biển bắn vào. Nhiều chiến sĩ của ta đã anh dũng hy sinh. Sau 5 ngày giao tranh, ta chiếm giữ thành công cầu Phú Long, mở đường cho Quân Giải phóng tiến vào Phan Thiết. Cùng thời điểm này, các đơn vị của Quân đoàn 2 từ hướng Nha Trang đánh vào, hỗ trợ Quân khu 6 ào ạt phản công. Rạng sáng ngày 19/4, ta giải phóng thị xã Phan Thiết. Các đơn vị của địch nháo nhác tháo chạy về Đồng Nai lập phòng tuyến cố thủ để bảo vệ Sài Gòn.

"Các trận chiến đều rất ác liệt, một mất một còn. Có lúc nguy nan, đồng chí Phó Chính ủy Trung đoàn 812, Đại tá Nguyễn Văn Tý động viên chúng tôi: Bọn địch đánh núi Dinh thành vôi, các đồng chí sẽ thành tượng đá. Dù sống hay chết, chúng ta đều là những anh hùng của dân tộc này!..", ông Binh nhớ lại.

Sau Ngày giải phóng hoàn toàn miền Nam, chiến sĩ Nguyễn Công Binh được lệnh ngược lên Tây Nguyên, tiếp tục cùng đồng đội chiến đấu, tiêu diệt FULRO lúc này đang ráo riết hoạt động dưới sự giật dây của tàn quân Mỹ - ngụy. Đến năm 2009, ông nghỉ hưu với chức danh Phó Tham mưu trưởng Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Lâm Đồng, quân hàm đại tá.

Theo Khắc Lịch (CANDO)

Có thể bạn quan tâm

Nghề xưa vẫn chảy bên dòng sông Côn

Nghề xưa vẫn chảy bên dòng sông Côn

(GLO)- Bên dòng sông Côn, đoạn chảy qua thôn Kiên Mỹ (xã Tây Sơn, tỉnh Gia Lai) từ lâu đã hình thành những xóm nghề gắn với đời sống người dân như làm đậu khuôn, giá đỗ, bún, bánh tráng, các loại bánh truyền thống, trồng rau... 

Phía sau đầu sóng Trường Sa

Phía sau đầu sóng Trường Sa

Bán đảo Cam Ranh nắng gió có một khu đô thị đặc biệt mang tên Khu đô thị Căn cứ quân sự Cam Ranh (Khánh Hòa). Sau những ô cửa bình yên nơi đây là mái ấm của các gia đình quân nhân, trong đó có những người vợ đang ngày ngày thay chồng chăm lo tổ ấm, khi các anh làm nhiệm vụ nơi đầu sóng Trường Sa.

Thầy tôi là nhà cách mạng làm thơ

Thầy tôi là nhà cách mạng làm thơ

Tôi gọi cha tôi bằng 'thầy' vì ông cụ muốn tôi nhớ lại gốc gác của mình từ một làng nào đó ở đất Nghệ An. Người Bắc hay gọi cha là thầy, mẹ là u. Bên nội tôi là người di dân, vào Quảng Ngãi từ mấy trăm năm trước.

Lưu giữ ký ức thời hoa lửa bằng công nghệ

Lưu giữ ký ức thời hoa lửa bằng công nghệ

(GLO)- Chiến tranh đã lùi xa hơn nửa thế kỷ. Những người trực tiếp đi qua những năm tháng khốc liệt ấy, nay đều đã ở tuổi xế chiều. Nhưng thời gian không chờ đợi ai. Khi những nhân chứng dần vắng bóng, cũng là lúc nhiều mảnh ghép ký ức về lịch sử dân tộc không còn cơ hội được kể lại.

Lộ Diêu vươn mình từ gian khó

Lộ Diêu vươn mình từ gian khó

(GLO)- Trước đây, Lộ Diêu (phường Hoài Nhơn Đông) như một thế giới tách biệt với bên ngoài. Ðặc trưng địa hình và cuộc sống của người dân nơi đây được đúc kết qua câu: “Lộ Diêu một biển ba đèo - Gian nan đã vượt, khó nghèo đã qua”.

Mang con dấu đến bản

Mang con dấu đến bản

Hai đứa con đã 15 và 13 tuổi, nhưng lần đầu tiên, vợ chồng anh Moong Văn Phong mới đi làm khai sinh cho con khi Trung tâm Phục vụ hành chính công xã Nhôn Mai (Nghệ An) mang con dấu đến tận bản để làm thủ tục cho dân.

Những dáng lính vùng biên

Những dáng lính vùng biên

(GLO)- Tôi gặp những người lính trên những chuyến tàu tuần tra ngoài khơi xa, giữa những hải trình dọc dài duyên hải đồng hành, làm chỗ dựa bảo vệ ngư dân và giữ gìn an ninh trật tự trên biển quê hương; gặp họ giữa những vùng biên giới Campuchia heo hút đầy nắng gió.

Ruổi rong đời chăn vịt

Ruổi rong đời chăn vịt

(GLO)- Sau mỗi mùa gặt, những cánh đồng lúa ở các xã An Lương, An Hòa, An Vinh, Tuy Phước… lại rộn ràng bởi đàn vịt hàng nghìn con tìm về kiếm ăn. Gắn với đàn vịt, những người chăn vịt miệt mài rong ruổi qua nhiều cánh đồng, lấy mùa gặt làm nhịp mưu sinh.

Trầm tích sông Ba

Trầm tích sông Ba

(GLO)- Sông Ba đoạn qua xã Ia Dreh (tỉnh Gia Lai) mùa khô, vài con thuyền đánh cá nằm gối đầu nghỉ ngơi trên những doi cát. Chiều xuống, từ những bến sông, người dân vẫn ra tắm mát dù nước cạn tới mức có thể lội ra giữa dòng.

Những dấu vết bí ẩn ven sông Ba

Những dấu vết bí ẩn ven sông Ba

(GLO)- Men theo bờ sông Ba đoạn chảy qua buôn Tơnia (xã Ia Rsai, tỉnh Gia Lai), khi nắng cuối ngày hắt những tia vàng lấp lánh trên mặt nước, chúng tôi bắt gặp những vật thể lạ nhô lên khỏi lớp đất sét. 

Miếu thờ liệt sĩ bên suối Hội Phú

Miếu thờ liệt sĩ bên suối Hội Phú

(GLO)- Không biết tên tuổi, quê quán những người lính hy sinh trong trận đánh Tết Mậu Thân 1968 tại Pleiku, người dân bên suối Hội Phú (phường Hội Phú, tỉnh Gia Lai) vẫn âm thầm thắp những nén nhang rồi lập miếu thờ ngay nơi các anh từng nằm xuống. 

Vị Xuyên - Bạn tôi vẫn còn đó

Vị Xuyên - Bạn tôi vẫn còn đó

(GLO)- Vùng biên giới Vị Xuyên, tỉnh Tuyên Quang (Hà Giang cũ) hôm nay đã đổi thay, nhưng những người đồng đội của tôi vẫn còn đó, nằm ngay ngắn trong đội hình “hàng thẳng hàng, lối thẳng lối, quân dung tươi tỉnh” tại Nghĩa trang Liệt sĩ Quốc gia Vị Xuyên.

null