Bền bỉ gieo yêu thương nơi vùng đất khó

Theo dõi Báo Gia Lai trên Google News

(GLO)- Giữa bao thiếu thốn của vùng đất Pờ Tó, có một người thầy lặng lẽ, bền bỉ gieo yêu thương cho học trò nghèo. Thầy không chỉ dạy chữ mà còn khởi xướng nhiều mô hình sẻ chia đầy ý nghĩa như: “Tủ bánh mì 0 đồng”, “Mái ấm cho em”, “Trao sinh kế cho học trò nghèo”.

Những việc làm thầm lặng giàu nhân ái ấy đã thắp lên niềm tin, nâng bước nhiều thế hệ học trò vùng khó khăn vững vàng đi tới ước mơ.

Đó là thầy Vũ Văn Tùng (SN 1980), giáo viên Trường Tiểu học & THCS Đinh Núp.

Không nỡ rời đi vì thương trò nghèo

* Cơ duyên nào khiến thầy gắn bó với Trường Tiểu học & THCS Đinh Núp?

- Năm nay vừa tròn 10 năm tôi về công tác tại Trường Tiểu học & THCS Đinh Núp. Ngày tôi về đây, trường mới thành lập, thiếu thốn đủ bề. Tôi chỉ nghĩ đơn giản là mình góp sức cùng đồng nghiệp dựng xây từ những viên gạch đầu tiên. Thoáng chốc mà đã gần 20 năm tôi gắn bó với nghề dạy học ở vùng đất khó khăn này.

Trước đó, tôi từng giảng dạy tại Trường THCS Cù Chính Lan (xã Ia Kdăm) - nay là Trường Tiểu học & THCS Kpă Klơng (xã Ia Tul), rồi chuyển về Trường THCS Lương Thế Vinh (xã Pờ Tó). Ở bất cứ đâu, tôi luôn tâm niệm học sinh phải là trung tâm. Các em phần lớn là người dân tộc thiểu số, cuộc sống còn nhiều khó khăn. Vì thế, dạy chữ thôi chưa đủ, tôi còn phải dỗ dành trò, vận động cha mẹ học sinh hiểu rằng học tập là con đường duy nhất giúp con em mình đổi đời.

4 năm trước, tôi từng nghĩ đến việc xin chuyển công tác về gần nhà. Nhưng một kỷ niệm đã khiến tôi quyết định gắn bó trọn vẹn với học trò Pờ Tó. Đó là một ngày, tôi đang viết dở hồ sơ xin thuyên chuyển và để ngay trên bàn lớp học. Giờ ra chơi, học trò đọc được. Khi tôi quay lại, cả lớp ùa tới, đồng thanh: “Thầy ơi, thầy đừng bỏ chúng em!”. Nghe vậy, tim tôi thắt lại. Tôi gấp hồ sơ cất đi và tự nhủ “mình sẽ ở lại với các em!”.

Thầy Tùng chia sẻ, điều cốt lõi giúp các mô hình thiện nguyện của mình có thể lan tỏa chính là hiệu quả, thực chất. Sự kiên trì, bền bỉ và minh bạch trong từng hoạt động cũng vô cùng quan trọng. Không hoạt động nào có thể thành công ngay tức thì, mà cần thời gian gieo niềm tin để cộng đồng thấu hiểu và đồng hành.

Thầy Tùng thăm và động viên em Nay H’Lại (lớp 8, Trường Tiểu học & THCS Đinh Núp) được “Tủ bánh mì 0 đồng” hỗ trợ xây nhà nhân ái.
Thầy Tùng thăm và động viên em Nay H’Lại (lớp 8, Trường Tiểu học & THCS Đinh Núp) được “Tủ bánh mì 0 đồng” hỗ trợ xây nhà nhân ái. Ảnh: P.D

* Xuất phát điểm của mô hình “Tủ bánh mì 0 đồng” cũng từ những điều giản dị như vậy?

- Nhiều học trò đến lớp với cái bụng đói. Có em không chịu nổi, giờ ra chơi lại chạy về nhà tìm chút gì đó lót dạ. Mỗi lần chứng kiến là tôi quặn thắt lòng. Thế là, tôi kêu gọi các nhà hảo tâm, mong góp một bữa sáng ấm lòng cho các em. Ngày 5.12.2021, “Tủ bánh mì 0 đồng” ra đời. Ban đầu chỉ 60 ổ mỗi sáng, đến nay duy trì hơn 200 suất miễn phí đều đặn vào sáng thứ Hai, Tư, Sáu.

Để duy trì hoạt động, tôi dậy từ 4 giờ 30 phút sáng, vượt quãng đường hơn 40 km chuẩn bị bánh mì cho học sinh, rồi lại quay về dạy học. Dù vất vả nhưng chỉ cần thấy ánh mắt trong veo của học trò khi cầm ổ bánh mì, mọi mệt nhọc như tan biến. Tôi tin rằng, gieo một hạt giống yêu thương, mảnh đất này sẽ nảy nở biết bao điều tốt đẹp.

Thầy Tùng trao sinh kế cho em Đinh KDiết (lớp 7, Trường Tiểu học & THCS Đinh Núp).
Thầy Tùng trao sinh kế cho em Đinh KDiết (lớp 7, Trường Tiểu học & THCS Đinh Núp). Ảnh: P.D

* Không dừng ở bữa sáng, thầy tiếp tục hành động vì tương lai học trò nghèo?

- Từ năm 2022, tôi vận động các nhà hảo tâm hỗ trợ bò, dê sinh sản cho những gia đình học sinh đặc biệt khó khăn. Đến nay, hơn 20 mô hình sinh kế đã được trao tận tay học sinh Trường Tiểu học & THCS Đinh Núp và vùng lân cận với tổng trị giá hơn 200 triệu đồng. Nhiều vật nuôi đã sinh sản, mang lại nguồn thu nhập nhỏ nhưng ổn định, giúp gia đình các em vơi bớt nhọc nhằn, học sinh có thêm động lực tiếp tục bám trường, bám lớp.

Trăn trở với hoàn cảnh khó khăn của học trò, từ năm 2023 đến nay, tôi cùng các nhà hảo tâm xây dựng được 7 căn nhà kiên cố cho học sinh nghèo với tổng chi phí hơn 600 triệu đồng. Với các em, ngôi nhà ấy không chỉ che nắng mưa mà còn là bệ đỡ tinh thần, thắp lên hy vọng về một ngày mai tươi sáng.

Ngoài ra, tôi kết nối nhiều chương trình nhân ái để trao 100 - 200 suất quà mỗi dịp Tết; tặng xe đạp, sách vở, quần áo cho học sinh khó khăn trước thềm năm học mới; lập Quỹ học bổng “Vì em hiếu học”. Năm 2025, chúng tôi triển khai chương trình “Điểm tựa nhân ái”, hỗ trợ 2 triệu đồng/tháng cho 2 em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn. Điều đáng quý là từ chỗ thầy cô phải lên rẫy gọi học sinh về, nay phụ huynh đã chủ động đưa con ra lớp.

Giữ lửa yêu thương nơi vùng khó

Dành phần lớn tâm huyết cho học trò, thầy Tùng cũng thú nhận rằng có những lúc bản thân chưa tròn trách nhiệm với gia đình. “Tôi chưa một lần đưa con đến trường, cũng chưa dự họp phụ huynh cho con. May mắn, tôi có người bạn đời cũng là giáo viên luôn thấu hiểu, sẻ chia. Nhờ vậy, tôi có thêm sức mạnh để tiếp tục gieo chữ, gieo tình thương nơi mảnh đất này”, thầy Tùng trải lòng.

Thầy Tùng ân cần, tận tâm chỉ dạy học sinh.
Thầy Tùng ân cần, tận tâm chỉ dạy học sinh. Ảnh: P.D

* Theo thầy, tình thương và sự sẻ chia có ý nghĩa như thế nào trong việc hình thành và nuôi dưỡng nhân cách học trò?

- Tôi tin rằng, tình thương và sự sẻ chia từ thầy cô, gia đình, cộng đồng chính là nguồn năng lượng nuôi dưỡng nhân cách học trò. Nó khơi dậy tinh thần “tương thân, tương ái”, làm bừng sáng ngọn lửa yêu thương trong lòng các em.

Thời gian tới, tôi tiếp tục mở rộng “Tủ bánh mì 0 đồng” đến nhiều điểm trường khác; phát triển Quỹ học bổng “Vì em hiếu học”; ấp ủ xây thêm những “Mái ấm cho em”, để học trò nghèo đến gần hơn với ước mơ của mình.

Thầy Tùng chia sẻ, điều cốt lõi giúp các mô hình thiện nguyện của mình có thể lan tỏa chính là hiệu quả, thực chất. Sự kiên trì, bền bỉ và minh bạch trong từng hoạt động cũng vô cùng quan trọng. Không hoạt động nào có thể thành công ngay tức thì, mà cần thời gian gieo niềm tin để cộng đồng thấu hiểu và đồng hành.

* Thầy muốn chuyển tải thông điệp gì đến học trò và xã hội?

- Với học trò, tôi muốn nhắn nhủ: Con đường đến với tri thức chưa bao giờ dễ dàng, đặc biệt khi hoàn cảnh còn nhiều thiếu thốn. Nhưng chính những giọt mồ hôi và những bước chân nứt nẻ trên đường đến lớp sẽ làm cho ước mơ thêm vững bền. Hãy tin, chỉ cần kiên trì học tập, tri thức sẽ trở thành đôi cánh giúp các em bay cao.

Còn với cộng đồng, tôi chỉ đôi lời, rằng: Một ổ bánh mì, một cuốn vở, một mái nhà nhỏ… có thể làm thay đổi cả tương lai một đứa trẻ. Mỗi học trò nghèo đều mang trong mình một ngọn lửa hy vọng. Xin hãy cùng nhau tiếp thêm nhiên liệu cho ngọn lửa ấy, để không em nào bị bỏ lại phía sau.

* Cảm ơn thầy vì cuộc trò chuyện này!

Với những đóng góp bền bỉ, thầy Vũ Văn Tùng đã nhận nhiều phần thưởng cao quý: Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ vì thành tích tiêu biểu trong học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; bằng khen của Bộ trưởng Bộ GD&ĐT và được vinh danh trong chương trình “Vinh quang Việt Nam”; bằng khen của Chủ tịch UBND tỉnh nhân dịp tổng kết 10 năm thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW của Bộ Chính trị…

Có thể bạn quan tâm

Về lại ga xép

Về lại ga xép

Tôi đã cố cưỡng lại sự mời gọi của chuyến food tour (du lịch ẩm thực) tại trung tâm thành phố Hải Phòng (cũ) để xuống tàu sớm hơn ba ga.

Ngày mới bên sông Pô Cô

E-magazine Ngày mới bên sông Pô Cô

(GLO)- Sớm mai ở Ia Krái, dòng Pô Cô uốn lượn như dải lụa bạc giữa mênh mông cây cối. Nước sông lăn tăn, gợn sóng nhỏ vỗ vào bãi cát vàng, len qua vườn rẫy, tạo thành một bản hòa ca của thiên nhiên và con người.

Giữ cây thuốc quý giữa đại ngàn An Toàn

Giữ cây thuốc quý giữa đại ngàn An Toàn

(GLO)- Tự xa xưa người Bahnar ở đại ngàn An Toàn (tỉnh Gia Lai) đã biết sử dụng nhiều loài cây rừng để làm thuốc chữa bệnh. Kinh nghiệm được chắt lọc qua nhiều thế hệ, không chỉ chăm sóc sức khỏe cộng đồng mà còn thể hiện sự am hiểu sâu sắc về tự nhiên, góp phần gìn giữ giá trị y học dân gian.

Xây dựng thế trận lòng dân nơi tà đạo "Hà Mòn" đi qua - Kỳ cuối: Xây dựng thế trận lòng dân- tường lửa ngăn tà đạo

E-magazine Xây dựng thế trận lòng dân nơi tà đạo "Hà Mòn" đi qua - Kỳ cuối: Xây dựng thế trận lòng dân- tường lửa ngăn tà đạo

(GLO)- Ba đối tượng cốt cán cuối cùng của tà đạo “Hà Mòn” bị bắt giữ tại khu vực núi Jơ Mông (giáp ranh xã Hra và xã Lơ Pang) vào ngày 19-3-2020 đã đánh dấu bước ngoặt quan trọng, khép lại hành trình đấu tranh kéo dài hơn một thập kỷ.

'Sói biển' Lý Sơn và hành trình nối biển ra Hoàng Sa

'Sói biển' Lý Sơn và hành trình nối biển ra Hoàng Sa

Ở đặc khu Lý Sơn (Quảng Ngãi), lão ngư Dương Minh Thạnh được nhiều ngư dân gọi là “lão ngư Hoàng Sa” bởi có công “nối biển” Lý Sơn ra quần đảo Hoàng Sa. Ông còn được mệnh danh là “sói biển” Lý Sơn, bởi sức vươn khơi dẻo dai, từng 5 lần thoát chết thần kỳ giữa bão biển.

Xây dựng thế trận lòng dân nơi tà đạo "Hà Mòn" đi qua - Kỳ 3: Gieo lại niềm tin trên đất cũ

E-magazine Xây dựng thế trận lòng dân nơi tà đạo "Hà Mòn" đi qua - Kỳ 3: Gieo lại niềm tin trên đất cũ

(GLO)- Khi tà đạo “Hà Mòn” tan biến, trên những buôn làng ở xã Hra, xã Đak Pơ, niềm tin làm giàu đang được gieo lại từ chính mảnh đất cũ. Nhờ sự vào cuộc của cấp ủy, chính quyền, lực lượng chức năng cùng ý chí vươn lên của người dân, những vùng đất này đang chuyển mình mạnh mẽ. 

Những chuyện tình xuyên biên giới ở Ia O

Những chuyện tình xuyên biên giới ở Ia O

(GLO)- Trên vùng biên Ia O (tỉnh Gia Lai), dòng Pô Cô vừa là ranh giới tự nhiên, vừa là nhịp cầu kết nối lương duyên. Từ những lần qua lại thăm thân, dự lễ hội, nhiều mối tình nảy nở, hình thành nên những mái ấm xuyên biên giới bình dị, bền bỉ, góp phần dệt nên diện mạo riêng nơi phên giậu Tổ quốc.

Làng bồng bềnh trên dòng Pô Kô

Làng bồng bềnh trên dòng Pô Kô

Giữa miền biên viễn phía tây Gia Lai, trên dòng Pô Kô hùng vĩ, hàng chục gia đình từ Tây Nam bộ tìm đến lập nghiệp, dựng nên những căn nhà nổi chông chênh giữa sóng nước. Cuộc mưu sinh lặng lẽ thể hiện nghị lực của con người, ý chí bám trụ và khát vọng sống chan hòa cùng sông nước.

Bấp bênh xóm chài vùng biên

Bấp bênh xóm chài vùng biên

(GLO)- Xóm chài trên mặt hồ thủy điện Sê San (làng Tăng, xã Ia O) hiện có 17 hộ với 58 nhân khẩu, đến từ các tỉnh ở miền Đông Nam Bộ và Tây Nam Bộ. Không đất ở, thiếu giấy tờ tùy thân, họ tự dựng nhà bè, bám lấy con nước để mưu sinh.

null