Hoài niệm "ghè Yàng"

Theo dõi Báo Gia Lai trên Google News
(GLO)- Ngày mới lên Gia Lai cái gì với tôi cũng mới mẻ, cũng gợi sự tò mò. Một bộ chiêng phải đổi mấy chục con trâu, một chiếc ghè hay một chiếc trống cũng có giá tương tự. Chất liệu, thời gian hay điều gì khiến chúng nằm trên cả một đống tài sản ghê gớm như thế?
Năm 1987, một lần đi công tác ở xã Yang Trung, nghe nói gia đình anh Blớt ở làng Pyang (nay thuộc thị trấn Kông Chro) có chiếc “ghè Yàng” trị giá 30 con trâu, tôi lặn lội tìm đến và hiểu ra qua câu chuyện với chủ nhân… Đó là chiếc ghè thật lớn, chiều cao phải đến 1,5 m, nước men màu da lươn bóng loáng. Khoảng gần miệng trang trí hình mây, kế tiếp vẽ vây rồng. Trang trí nhìn chung đơn giản nhưng chất gốm thì thật đặc biệt: khẽ búng vào thành miệng, âm thanh phát ra trong veo như gõ vào kim khí. Anh Blớt quả quyết rằng, nếu trong làng có việc buồn hay vui thì dẫu cách rất xa, ghé tai vào miệng ghè vẫn nghe rõ tiếng cười, tiếng khóc… Theo phỏng đoán của Blớt thì dòng họ mẹ anh-bà Tuar ngày xưa hẳn phải giàu có lắm mới sắm nổi chiếc ghè Zơ vơng 8 tai này. Thế nên, dù chiến tranh liên miên, dòng họ lưu tán người còn người mất nhưng chiếc Zơ vơng gia bảo vẫn còn nguyên vẹn. Tính cả Blớt thì chiếc ghè đã qua 5 đời, tức là đã trên 200 năm tuổi.
Bấy giờ, Blớt vẫn nhớ như in giai thoại từ cụ ngoại anh truyền lại. Chuyện rằng, trước khi có được chiếc ghè này, ông cũng đã có của nhưng chưa phải là giàu. Một hôm trên đường đi An Khê thăm họ hàng, ông chợt thấy cây lồ ô bên đường có mấy con ong vàng xúm xít làm tổ. Thấy hay hay, ông chặt làm gậy. Lạ thay, dù chiếc gậy để đâu thì những con ong cũng cứ chui vào chui ra như thường. Một nhà giàu ở An Khê thấy vậy thì cho là “gậy Yàng”, bèn nằn nì đổi bằng 6 con trâu. Những con trâu đổi được sinh sôi nhanh chóng khiến ông trở thành người giàu có rồi tậu được chiếc ghè này… Trước đây, dòng họ anh Blớt còn một chiếc Zơ vơng nữa. Chiếc này thấp hơn nên gọi là “ghè cái”. Nó mới bị bán đi sau năm 1975 với giá 14 con bò. Giai thoại về chiếc “ghè cái” nghe còn ly kỳ hơn nữa. Số là sau khi tậu được chiếc “ghè đực”, trên thượng nguồn sông Ba bỗng có một chiếc ghè trôi xuống. Nó cứ lập lờ khi nổi khi chìm. Một người đi lấy nước thấy lạ chạy về kêu làng ra. Người ta tranh nhau bơi ra vớt nhưng chẳng ai vớt được. Thấy vậy, cụ ngoại Blớt bèn chạy về nhà lấy nỏ lắp tên bắn. Khi mũi tên chạm vào thân thì nó dừng lại không trôi nữa. Ông bơi ra vớt đem về. Danh thiêng chiếc ghè này từ đó truyền đi khắp vùng. Mỗi lần uống rượu cúng Yàng người ta đều phải lạy nó, kính cẩn như với hòn đá bản mệnh để ở nhà rông…
Những chiếc “ghè Yàng” là một nguồn tài sản lớn, dĩ nhiên chỉ những người giàu có mới sắm nổi. Người Bahnar xưa quan niệm, họ là người được Yàng ban cho “vía cứng” và chỉ họ mới giữ nổi được “hồn” của ghè. Nếu nghèo đi vì một lý do nào đó thì cũng có nghĩa là “vía” của họ đã yếu đi. Trong trường hợp này, “ghè Yàng” phải đưa đi cất giấu cho đến khi nào của nả tương đương đời trước, nghĩa là “vía” cứng lại thì mới được làm lễ cúng đưa ghè về. Thành viên nào trong dòng họ được giữ “ghè Yàng” là niềm hãnh diện dù phải tuân theo những luật lệ khá phiền phức. Anh Blớt kể rằng cứ mỗi năm vào vụ lúa mới lại phải sửa lễ cúng ghè. 2 năm cúng 1 heo, 4 năm cúng 1 bò. “Ghè Yàng” chỉ được đựng rượu khi lễ cúng tối thiểu 1 con bò trở lên nhưng kiêng dùng trong đám ma, pơ thi…
Sau này thì tôi được biết Zơ vơng chưa phải là loại ghè quý nhất. Trên nó còn là những Tuk, Tang… Và đã liệt vào hàng “ghè Yàng” đương nhiên nó cũng được phủ lớp giai thoại khói sương tương tự. Với quan niệm “vạn vật hữu linh” của người Tây Nguyên, chủ nhân dường như chẳng cần biết nó được chế tác ở đâu, chất liệu gốm thế nào, với họ niềm tin tâm linh mới là giá trị đích thực của những chiếc “ghè Yàng”. Trải hàng chục năm chiến tranh rồi sự săn lùng ráo riết của những tay buôn đồ cổ hay sự quyến rũ của những vật dụng hiện đại, ghè Tuk, Tang ở Gia Lai đã gần như “tuyệt chủng” từ lâu. Hơn 30 năm rồi, tôi cũng không chắc chiếc Zơ vơng kia có còn không… Thoáng buồn khi trong lễ hội ở làng bây giờ chỉ toàn những thứ ghè đời mới, trơ trọi một giá trị sử dụng như những thứ chum sành!
NGỌC TẤN

Có thể bạn quan tâm

Giọt nước - Mạch nguồn văn hóa Jrai

Giọt nước - Mạch nguồn văn hóa Jrai

(GLO)- Ở Tây Nguyên, những bước chân đầu ngày của người Jrai hướng về giọt nước của làng. Nguồn nước trong lành từ đó đã đi cùng các buôn làng qua bao mùa rẫy, bao thế hệ; đồng thời lưu giữ những lớp trầm tích văn hóa, tín ngưỡng và nếp sinh hoạt cộng đồng từ ngàn xưa.

Tái hiện lễ ăn hỏi truyền thống của dân tộc Jrai tại làng Ơp, phường Pleiku, tỉnh Gia Lai nhằm phát triển du lịch

Phục dựng lễ ăn hỏi truyền thống của người Jrai gắn với phát triển du lịch cộng đồng

(GLO)- Giữa làng Ơp (phường Pleiku, tỉnh Gia Lai), lễ ăn hỏi truyền thống của người Jrai được phục dựng với đầy đủ nghi thức. Hoạt động này góp phần bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa địa phương, đồng thời mở ra hướng phát triển du lịch cộng đồng, tạo thêm sinh kế, nâng cao đời sống người dân.

Gìn giữ và phát huy giá trị di sản Hán Nôm

Cần phối hợp liên ngành để gìn giữ và phát huy giá trị di sản Hán Nôm

(GLO)- Từ những sắc phong, gia phả, văn tế, địa bạ đến hoành phi, câu đối…, di sản Hán Nôm đang lưu giữ trên vùng đất Gia Lai là lớp trầm tích đặc biệt của lịch sử và văn hóa. Việc nhận diện giá trị, gìn giữ kho tư liệu này sẽ gợi mở con đường bảo tồn, phát huy giá trị di sản trong đời sống.

Ngân vang tiếng cồng chiêng Chăm H’roi

Ngân vang tiếng cồng chiêng Chăm H’roi

(GLO)- Trước những đổi thay của đời sống hiện đại, các nghệ nhân người Chăm H’roi ở Câu lạc bộ (CLB) Cồng chiêng làng Canh Thành (xã Vân Canh, tỉnh Gia Lai) vẫn bền bỉ gìn giữ tiếng cồng, tiếng chiêng - linh hồn văn hóa của dân tộc mình.

null