Bí mật cây nỏ Tây Nguyên

Theo dõi Báo Gia Lai trên Google News
(GLO)- Người Tây Nguyên không dùng cung mà chỉ dùng nỏ. So với cung, nỏ có nhược điểm là thời gian chuẩn bị để bắn lâu hơn nhưng lại chính xác hơn, tên bay xa hơn. Có lẽ bởi vậy mà đồng bào các dân tộc ở Tây Nguyên cũng như suốt dọc dải Trường Sơn hàng bao đời chỉ quen dùng nỏ.
Chế tác nỏ không quá phức tạp, ai cũng có thể làm được. Nhưng để một cây nỏ có độ xạ lực cao, đường tên bay chính xác thì lại là chuyện khác. Chính vì vậy mà mỗi dân tộc lại có những bí quyết khác nhau. Tuy nhiên, hiểu được bí quyết không có nghĩa là khi bắt tay vào chế tác, ai cũng có thể cho ra lò những cây nỏ lý tưởng. Ông Đinh Pan (làng Tờ Nùng 2, xã Ya Ma, huyện Kông Chro) cho rằng: Hiện nay, mỗi làng may lắm chỉ còn vài người có thể làm ra những cây nỏ đúng nghĩa mà thôi.
Để làm một cây nỏ tốt, trước hết phải lựa chọn kỹ nguyên liệu. Gỗ dùng làm cánh nỏ phổ biến nhất là gỗ trắc. Đây là loại gỗ rắn, có độ đàn hồi cao, giữ được tính chất ổn định trong mọi điều kiện thời tiết. Một số loại gỗ có đặc tính tương tự cũng được lựa chọn. Người Xê Đăng dùng cây k’sam. Người Bahnar thì dùng 3 loại gỗ để chế tác nỏ, đó là trắc, giáng hương và bruâh. Những cây gỗ được chọn đều theo một tiêu chí chung là thẳng, không có mắt, đường kính lõi trong khoảng từ 15 đến 20 cm và người ta chỉ lấy khúc giữa. Chọn được gỗ rồi thì treo lên bếp hong cho thật khô, sau đó tùy vào kích thước nỏ để ra gỗ. Thông thường có 2 loại nỏ: loại dùng để săn thú lớn và loại để săn thú nhỏ. Loại lớn, thân nỏ dài bằng 4 gang tay (khoảng 80 cm). Loại nhỏ 2 gang rưỡi. Kích thước nỏ không phải tùy tiện mà tuân theo những tỷ lệ nghiêm ngặt. Thanh ngang-tức cánh nỏ, người Bahnar gọi là “gơr” luôn có chiều dài bằng 2/3 thanh dọc, bề dày khoảng 2 cm. Cánh nỏ phải chuốt thật thẳng, độ dày phải đồng đều mới có độ xạ lực cao, mũi tên bay mới ổn định. Đây có thể nói là công đoạn khó nhất trong việc chế tác nỏ. Về điều này, đồng bào Giẻ Triêng thường dùng những chiếc khuôn bằng gỗ để kiểm tra độ đồng đều cho việc chế tác cánh nỏ. Hai đầu thanh ngang làm 2 nấc để buộc dây.
Thanh dọc chế tác đơn giản hơn. Khi đẽo xong, người ta tạo một đường rãnh để tra mũi tên và đục lỗ làm lẫy nỏ, sau đó dùng dao cạo nhẵn rồi lấy lá rừng đánh cho thật bóng. Trong số các loại gỗ được dùng chế tác nỏ kể trên, chỉ có duy nhất gỗ trắc được dùng làm cả 2 bộ phận là cánh nỏ và thanh dọc, còn những loại gỗ khác thì không được. Người Bahnar nếu đã dùng thanh ngang là gỗ hương thì thanh dọc phải bằng gỗ bruâh hay trắc. Đây là điều được coi như một sự bí mật, các nghệ nhân cũng không ai cắt nghĩa được tại sao.

Chàng trai Bahnar và cây nỏ. Ảnh: Ngọc Tấn
Chàng trai Bahnar và cây nỏ. Ảnh: Ngọc Tấn
Xong phần thân nỏ và cánh nỏ, một bộ phận rất quan trọng khác là dây nỏ. Người Bahnar không làm dây nỏ bằng da thú hay bất cứ vật liệu nào khác ngoài một loại cây được gọi là “chăm”. Đó là một loại dây leo dạng sợi nhỏ bằng que tăm. Người ta chọn những cây lên quá đầu người cắt về phơi khô, sau đó đập dập, đánh săn từng dây một rồi bện với nhau tạo thành dây nỏ. Người Giẻ Triêng thì dùng sam lủ-một loại cây trông giống cây mây nhưng dẻo hơn-mang về ngâm nước, phơi khô rồi bện xoắn lại. Nói chung đây là loại dây có sức bền lý tưởng, lại chịu được thời tiết khắc nghiệt của Tây Nguyên. Tuy nhiên, để dây lâu ngày không bị giãn và cánh nỏ không giảm độ đàn hồi, khi không dùng đến, người ta lại tháo một bên dây cho nỏ “nghỉ ngơi”.
Phần còn lại được coi đơn giản là chế tác tên. Mũi tên làm bằng tre, lồ ô, le hoặc gốc nứa nhưng cây phải thật già. Chiều dài mũi tên thường bằng 1/2 cánh nỏ. Đuôi mũi tên được gắn 3 cánh bằng lá rừng khô xếp lại để có đường bay ổn định. Nếu săn các loại thú nhỏ, người ta chỉ dùng tên thường, còn để săn các loại thú lớn thì phải dùng loại riêng. Loại tên này được vót cho đầu hơi tòe ra, có mấu để khi găm vào con vật chạy vướng cây rừng không bị rơi. Cũng có khi người ta gắn vào đầu tên mũi bằng sắt hay đá cứng để tạo sức xuyên sâu hơn. Tuy nhiên, muốn con vật nhanh kiệt sức thì phải dùng đến tên tẩm thuốc độc. Thứ thuốc độc tẩm tên ấy, mỗi dân tộc lại có bí quyết của riêng mình. Người Bahnar, Jrai lấy vỏ cây kral đem nấu cho cô đặc lại, kiểu như nấu cao rồi tẩm vào mũi tên. Người Xê Đăng, Giẻ Triêng thì dùng một loại lá rừng có tên là lanau obor kết hợp với một số loại lá khác nữa nấu thành cao tẩm vào đầu tên. Đơn giản hơn, người Giẻ Triêng mỗi sáng thức dậy sẽ nhổ nước bọt vào một chiếc ống nứa tích lũy lại. Để vài tháng sau tẩm vào sẽ có một loại tên thuốc độc rất hiệu nghiệm… Tuy nhiên, nhìn chung, các loại thuốc độc này không làm người hay thú chết ngay. Chúng chỉ làm vết thương sưng tấy lên rồi lan ra toàn cơ thể, sau đó ngấm dần vào phủ tạng một thời gian mới chết. Có điều đặc biệt là các loài thú bị tên thuốc độc thì người ăn thịt vẫn không ngộ độc, chúng chỉ tác động theo đường máu mà thôi.
Những chiếc nỏ của người Tây Nguyên chế tác có thể bắn xa tới 500 m. Không những thế, tài thiện xạ của đồng bào nói chung là rất đáng nể phục. Họ có thể dùng nỏ bắn trúng một con sóc đang chuyền cành cây ở khoảng cách trên 50 m. Trong cuộc sống thường nhật, nếu là khách quý đến nhà, họ chỉ mang nỏ ra và sau một đường tên bay là có ngay chú gà cần thịt. Cũng chính vì vị trí của cây nỏ trong cuộc sống mà không một cuộc thi tài thể thao nào trên dải đất cao nguyên lại thiếu vắng môn bắn nỏ.
NGỌC TẤN

Có thể bạn quan tâm

Các thung lũng ở Quy Nhơn xưa

Các thung lũng ở Quy Nhơn xưa

(GLO)- Trong cuốn "Du ký Trung kỳ theo đường cái quan", Camille Paris - nhà khảo cổ người Pháp từng tham gia xây dựng đường điện báo tại Trung Kỳ giai đoạn 1885-1889 đã nhắc đến 2 thung lũng nổi tiếng của Quy Nhơn xưa: thung lũng Công và thung lũng Gà.

Lễ cúng Quý Xuân tại tổ đình An Khê

Lễ cúng Quý Xuân tại tổ đình An Khê

(GLO)- Sáng 28-3 (tức mùng 10 tháng 2 âm lịch), tại đình An Khê (phường An Khê, tỉnh Gia Lai), Ban Nghi lễ đình tổ chức lễ cúng Quý Xuân trong không gian linh thiêng, rộn ràng tiếng chiêng, trống giữa tiết trời đẹp nhất của mùa xuân.

Di tích Plei Ơi chào đón du khách

Di tích Plei Ơi chào đón du khách

(GLO)- Khu di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia Plei Ơi - điểm đến mang giá trị tâm linh, lịch sử gắn với truyền thuyết Vua Lửa của đồng bào Jrai ở xã Chư A Thai - vừa được đầu tư đồng bộ, khang trang, sẵn sàng chào đón du khách trong Năm Du lịch quốc gia - Gia Lai 2026.

Lặng lẽ tìm về ký ức nghề xưa

Lặng lẽ tìm về ký ức nghề xưa

(GLO)- Cuối năm 2025, cuốn sách Nghề dệt truyền thống tỉnh Bình Định (từ thế kỷ XIX đến nay) của ThS. Hoàng Bình ra mắt bạn đọc như một công trình biên khảo công phu về một nghề thủ công từng gắn bó mật thiết với đời sống người dân đất Võ.

Bộ chiêng của các thủ lĩnh Jrai trở thành bảo vật quốc gia

Bộ chiêng Kơ Đơ trở thành bảo vật quốc gia

(GLO)- Bộ cồng chiêng Kơ Đơ (niên đại đầu thế kỷ XX) vừa được công nhận là bảo vật quốc gia. Không chỉ là nhạc cụ cổ, chiêng Kơ Đơ còn là hiện vật gắn với những thủ lĩnh Jrai xưa, phản ánh cấu trúc xã hội, đời sống tín ngưỡng và nghệ thuật âm nhạc độc đáo của cư dân Tây Nguyên.

Giai thoại về ba con ngựa nổi tiếng trong lịch sử

Giai thoại về ba con ngựa nổi tiếng trong lịch sử

(GLO)- Trong dòng chảy lịch sử, không chỉ có những bậc anh hùng làm nên huyền thoại, mà còn có những chiến mã góp phần tạo nên kỳ tích. Trong những thời khắc sinh tử, có 3 con ngựa nổi tiếng đã đi vào sử sách như biểu tượng của lòng trung nghĩa và sức mạnh phi thường.

Chất thuần khiết nâng tầm thổ cẩm

Chất thuần khiết nâng tầm thổ cẩm

(GLO)- Với việc hợp chuẩn OCOP, nhiều sản phẩm thổ cẩm Bahnar, Jrai ở Gia Lai bắt đầu định vị được thương hiệu. Quá trình này có công rất lớn của nhiều phụ nữ, nghệ nhân đã dồn tâm huyết từng bước đưa thổ cẩm truyền thống ra thị trường.

Tiến sĩ Lê Quang Lâm cùng câu chuyện tù và Jrai

Tiến sĩ Lê Quang Lâm cùng câu chuyện tù và Jrai

(GLO)- Hiểu về văn hóa Tây Nguyên bắt đầu từ những hiện vật dân tộc học, đó cũng là một trong những cách tiếp cận của TS. Lê Quang Lâm (phường Diên Hồng, tỉnh Gia Lai) khi nghiên cứu về văn hóa của người Jrai. Trong hàng nghìn hiện vật mà ông dày công sưu tầm, có bộ sưu tập tù và Jrai độc đáo.

Giọt nước - Mạch nguồn văn hóa Jrai

Giọt nước - Mạch nguồn văn hóa Jrai

(GLO)- Ở Tây Nguyên, những bước chân đầu ngày của người Jrai hướng về giọt nước của làng. Nguồn nước trong lành từ đó đã đi cùng các buôn làng qua bao mùa rẫy, bao thế hệ; đồng thời lưu giữ những lớp trầm tích văn hóa, tín ngưỡng và nếp sinh hoạt cộng đồng từ ngàn xưa.

null