Khơi sáng những miền quê đáng sống - Bài cuối: Phát huy lợi thế so sánh của sản phẩm ngành nghề

Theo dõi Báo Gia Lai trên Google News

Lâm Đồng cần phát huy lợi thế so sánh của sản phẩm ngành nghề để xây dựng nông thôn mới và tăng cường giá trị gia tăng.

Lâm Đồng là một trong 5 tỉnh Tây Nguyên phát triển kinh tế trụ cột nông nghiệp, tập hợp nhiều thành phần dân tộc đến định canh, đinh cư, tạo thành sự đa dạng loại hình nghề nghiệp, bản sắc văn hóa ngành nghề và lợi thế so sánh của sản phẩm đặc trưng làng nghề, nên cần được nắm bắt cơ hội mới, phát huy hơn nữa bởi những giải pháp đồng bộ, phù hợp và hiệu quả cao.

khoi-sang-nhung-mien-que-dang-song-dd.jpg
Cần thêm những giải pháp để phát huy lợi thế so sánh của sản phẩm gốm làng nghề xã Pró, huyện Đơn Dương trên thị trường

Tổng doanh thu ngành nghề nông thôn khoảng 7.760 tỷ đồng

Thống kê toàn tỉnh Lâm Đồng hiện có 4 nhóm ngành nghề nông thôn với khoảng 76 nghề truyền thống. Trong đó doanh nghiệp (531 cơ sở), hợp tác xã (30 cơ sở), tổ hợp tác (10 cơ sở), hộ gia đình (7.583 cơ sở), tổng số 13.708 lao động (gồm 1.371 lao động người dân tộc thiểu số). Cụ thể lao động thuộc các ngành nghề chế biến, bảo quản nông, lâm, thủy sản; xử lý, chế biến nguyên vật liệu phục vụ sản xuất nông nghiệp; sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ, thu nhập bình quân 9,5 triệu đồng/người/tháng. Tổng doanh thu của các cơ sở ngành nghề nông thôn khoảng 7.760 tỷ đồng. Từ nguồn vốn sự nghiệp ngân sách Trung ương thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng Nông thôn mới và ngân sách địa phương, toàn tỉnh Lâm Đồng đã hỗ trợ các “hạng muc” gồm: bảo tồn, khôi phục, phát triển và công nhận 7 làng nghề, làng nghề truyền thống; xây dựng và đầu tư trang thiết bị 12 phòng trưng bày cho 4 làng nghề; tham gia 4 đợt hội chợ và festival làng nghề cho 14 cơ sở, làng nghề; thực hiện 18 mô hình phát triển sản xuất làng nghề; tổ chức 15 lớp tập huấn, đào tạo nghề cho 700 người; triển khai 2 dự án phát triển ngành nghề nông thôn…

Đến nay, UBND tỉnh Lâm Đồng đã quyết định công nhận 20 làng nghề và làng nghề truyền thống. Và 2 nghệ nhân cũng được UBND tỉnh công nhận là bà Rơ Ông K’Tuyn, làng nghề truyền thống dệt thổ cẩm thôn B’nớr C (thị trấn Lạc Dương, huyện Lạc Dương) và ông Ka Tiếu, làng nghề truyền thống đan lát thôn Duệ (xã Đinh Lạc, huyện Di Linh). Riêng trong năm 2024, tiếp tục hoàn thành hồ sơ đề nghị công nhận thêm làng nghề dâu tằm tơ xã Đạ R’Sal, huyện Đam Rông. Các làng nghề sản xuất từ nguyên liệu đầu vào khai thác tại địa bàn tỉnh chiếm 80%; nguyên liệu ngoài tỉnh chiếm 10%; nguyên liệu nhập khẩu chiếm 10%. Đặc biệt nguyên liệu 100% trong tỉnh cung cấp cho các làng nghề truyền thống dệt thổ cẩm, rượu cần, mây tre đan. Toàn tỉnh có 9 làng nghề gắn với hoạt động du lịch, các lễ hội; 5 làng nghề đăng ký nhãn hiệu Hoa Đà Lạt và 1 làng nghề nấm đăng ký thương hiệu tập thể; 10 doanh nghiệp, 12 hợp tác xã và 3 tổ hợp tác hoạt động trong làng nghề. Ngoài ra 2 làng nghề với 2 chủ thể có sản phẩm OCOP 3 sao là rượu cần ở huyện Cát Tiên và bánh tráng mắm ruốc ở huyện Đơn Dương.

Theo ông Phạm Hưng - Chi cục trưởng Chi cục Phát triển nông thôn Lâm Đồng, tỉnh Lâm Đồng đã có những chính sách thu hút đầu tư và tạo mọi điều kiện phát triển ngành nghề, làng nghề. Bên cạnh đó, toàn tỉnh có đội ngũ nghệ nhân, chuyên gia tay nghề cao, tâm huyết truyền dạy nghề cho lớp thợ trẻ. TP Đà Lạt, Bảo Lộc cùng huyện Đức Trọng, huyện Đơn Dương đã lập quy hoạch điểm công nghiệp tập trung, góp phần thuận lợi cho các ngành nghề phát triển và tiêu thụ sản phẩm. Tuy nhiên, Chi cục trưởng Phạm Hưng cũng cho rằng “ngành nghề, làng nghề ở Lâm Đồng vẫn thiếu vốn đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, mở rộng quy mô sản xuất, thay đổi công nghệ và trang thiết bị tiên tiến; chưa đầu tư nghiên cứu và áp dụng những tiến bộ khoa học công nghệ vào sản xuất; so với quy hoạch thì tốc độ phát triển ngành nghề còn chậm, quy mô sản xuất nhỏ, việc khai thác tiềm năng du lịch quảng bá và tiêu thụ sản phẩm vẫn còn hạn chế…”.

Phát triển sản phẩm ngành nghề, làng nghề theo chuỗi giá trị gia tăng

Bởi vậy, trên cơ sở khai thác và phát huy lợi thế so sánh của các sản phẩm ngành nghề, làng nghề, nhất là đối với các sản phẩm theo chuỗi giá trị gia tăng, toàn tỉnh Lâm Đồng cần đồng bộ hơn nữa các giải pháp trọng tâm chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, tăng nhanh hàm lượng khoa học công nghệ, giảm tiêu hao năng lượng và vật tư nguyên liệu trong sản phẩm, đặc biệt gắn phát triển ngành nghề với tái cơ cấu ngành Nông nghiệp, xây dựng nông thôn mới và dịch vụ, du lịch…

Để góp phần khơi sáng những miền quê đáng sống trên địa bàn toàn tỉnh Lâm Đồng, giải pháp cụ thể theo phóng viên trước hết quy hoạch phát triển ngành nghề nông thôn phù hợp với quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội của địa phương, tập trung ngành nghề mũi nhọn như: trồng hoa, trồng dâu, nuôi tằm, chế biến tơ, dệt thổ cẩm, mây tre đan xuất khẩu, đồ gỗ dân dụng, đồ thủ công mỹ nghệ… Đồng thời, chú trọng phát triển các ngành nghề truyền thống rèn thủ công, cơ khí, sửa chữa máy nông cụ, gốm; khuyến khích mở rộng các ngành nghề mới tại địa phương như: Sinh vật cảnh, thêu ren móc sợi…

Tiếp theo bảo tồn và phát triển làng nghề trên cơ sở khai thác và phát huy lợi thế so sánh của các sản phẩm ngành nghề, làng nghề, trong đó đặc biệt chú trọng phát triển sản xuất các sản phẩm có giá trị gia tăng; áp dụng công nghệ cao để giảm thiểu chi phí và nâng cao chất lượng, tăng giá trị sức cạnh tranh của sản phẩm; tổ chức và tham gia hội chợ triển lãm, giới thiệu sản phẩm trong nước và quốc tế, đăng ký thương hiệu, mẫu mã, bao bì, chất lượng sản phẩm ngành nghề; cấp bằng công nhận nghề truyền thống, làng nghề, làng nghề truyền thống cho các cơ sở; xét tặng danh hiệu nghệ nhân trong lĩnh vực ngành nghề thủ công mỹ nghệ.

Và giải pháp xuyên suốt là hoàn thiện cơ chế, chính sách thu hút đầu tư, huy động các nguồn lực để hỗ trợ các tổ chức kinh tế tập thể, phát triển ngành nghề, làng nghề như hỗ trợ trang thiết bị, hạ tầng nhà xưởng, cơ giới hóa trong sản xuất và chế biến, qua đó góp phần hoàn thành tiêu chí xây dựng mô hình tổ chức sản xuất gắn với tiêu thụ nông sản bền vững theo chuỗi giá trị gia tăng thuộc chương trình xây dựng, phát triển kinh tế nông thôn mới trên địa bàn Nam Tây Nguyên…

Theo VĂN VIỆT (LĐ online)

Có thể bạn quan tâm

Một góc trung tâm xã Kon Chiêng.

Đánh thức Kon Chiêng

(GLO)- Từ quốc lộ 19 rẽ vào tỉnh lộ 666 khoảng 40 km thì đến xã Kon Chiêng. Hai bên đường là những triền mía xanh mát, thấp thoáng những mái nhà sàn trong không gian xanh thẳm của núi rừng, gợi về một Kon Chiêng đang vươn mình đổi thay.

Những chiếc bè nuôi thủy sản của ngư dân bị sóng đánh vỡ tan, trôi dạt ven biển.

Xác xơ làng chài sau cơn bão dữ...

(GLO)-Sau cơn bão dữ Kalmaegi (bão số 13), những làng chài vốn yên bình, đầy sinh khí bỗng chốc trở nên xác xơ, trơ trọi và ngổn ngang chỉ sau vài giờ bão quét qua. Cảnh quan rồi sẽ dần hồi phục, nhưng những mất mát, tổn thất vẫn sẽ đè trĩu trên đôi vai người dân ven biển rất lâu nữa...

Cảnh hoang tàn, đổ nát ở làng chài Nhơn Lý, Gia Lai. Ảnh: Đức Nhật

Gượng dậy sau bão

Bão Kalmaegi (bão số 13) đã tan, trên dải đất ven biển Gia Lai, Đắk Lắk, người dân lặng lẽ nhặt lại từng tấm tôn, viên ngói, gom góp chút bình yên từ đống hoang tàn.

Giữa tầng mây giữ trời

Giữa tầng mây giữ trời

(GLO)- Đỉnh Hàm Rồng cao hơn 1.000 m so với mực nước biển. Sườn núi sương mờ bao phủ này là nơi cán bộ, chiến sĩ Đài Quan sát thuộc Đại đội Thông tin (Phòng Tham mưu, Lữ đoàn Pháo phòng không 234, Quân đoàn 34) đồn trú.

Sống chậm với đĩa than trong thời đại số - Kỳ 1: Sự hồi sinh của dòng đĩa Vinyl

Sống chậm với đĩa than trong thời đại số - Kỳ 1: Sự hồi sinh của dòng đĩa Vinyl

Trong thời đại mà một thiết bị đeo tay có thể chứa đến 60 triệu bài hát, việc lựa chọn nghe nhạc từ một chiếc đĩa than tưởng như là lỗi thời. Nhưng thực tế, đó lại là biểu hiện của một xu thế tìm lại sự nguyên bản, chậm rãi và thật lòng trong trải nghiệm thưởng thức.

Sợi tơ mong manh kết nối trăm năm

Sợi tơ mong manh kết nối trăm năm

Khi nói đến sưu tầm đồ cổ ở Việt Nam, người ta thường nghe tới đồ gốm, sành sứ, hay đồ gỗ… chứ ít ai biết đến những món đồ vải mà qua đó thể hiện tay nghề thêu huy hoàng, vang danh thế giới của người Việt hàng trăm năm trước.

Tiến sĩ Nguyễn Minh Kỳ lọt Top 2% nhà khoa học ảnh hưởng nhất thế giới năm 2025.

Tiến sĩ Nguyễn Minh Kỳ và hành trình vào top 2% nhà khoa học ảnh hưởng nhất thế giới

(GLO)- Với nghiên cứu về ô nhiễm vi nhựa và công nghệ xử lý nước thải, Tiến sĩ Nguyễn Minh Kỳ (SN 1985, Phân hiệu Trường Đại học Nông Lâm TP. Hồ Chí Minh tại Gia Lai) được Đại học Stanford (Mỹ) và Nhà xuất bản Elsevier vinh danh trong top 2% nhà khoa học ảnh hưởng nhất thế giới năm 2025.

Người lưu giữ hàng trăm “báu vật” Chư A Thai

Người lưu giữ hàng trăm “báu vật” Chư A Thai

(GLO)- Ở xã Chư A Thai (tỉnh Gia Lai), có một người đàn ông gắn bó cả cuộc đời với những “ký ức triệu năm” còn sót lại dưới lòng đất. Gần 25 năm qua, ông Rcom Sin đã lặng lẽ sưu tầm và trân trọng gìn giữ rất nhiều khối gỗ hóa thạch kết tinh của đất trời.

Sê San: Sông kể chuyện đời…

Sê San: Sông kể chuyện đời…

(GLO)- Dòng Sê San miệt mài chở nặng phù sa; sóng nước bồng bềnh không chỉ kể câu chuyện mưu sinh, bảo vệ phên giậu, mà còn gợi mở tương lai phát triển bền vững, góp phần khẳng định vị thế của vùng biên trong hành trình dựng xây quê hương, đất nước.

Ông Ksor Yung có lối sống trách nhiệm, gần gũi nên được mọi người quý mến. Ảnh: R’Ô Hok

Ksor Yung: Từ lối rẽ sai lầm đến con đường sáng

(GLO)- Từ một người từng lầm lỡ, ông Ksor Yung (SN 1967, ở xã Ia Rbol, tỉnh Gia Lai) đã nỗ lực vươn lên trở thành người có uy tín trong cộng đồng. Ông tích cực tham gia vận động, cảm hóa những người sa ngã, góp phần giữ gìn an ninh trật tự và củng cố khối đại đoàn kết dân tộc.

Thôn Lao Đu giữa bát ngát núi rừng Trường Sơn

Lao Đu đã hết lao đao

Nằm bên đường Hồ Chí Minh huyền thoại, cuộc sống của hơn 150 hộ dân thôn Lao Đu, xã Khâm Đức, TP Đà Nẵng nay đã đổi thay, ngôi làng trở thành điểm du lịch cộng đồng giữa bát ngát núi rừng. 

Bền bỉ gieo yêu thương nơi vùng đất khó

Bền bỉ gieo yêu thương nơi vùng đất khó

(GLO)- Giữa bao thiếu thốn của vùng đất Pờ Tó, có một người thầy lặng lẽ, bền bỉ gieo yêu thương cho học trò nghèo. Thầy không chỉ dạy chữ mà còn khởi xướng nhiều mô hình sẻ chia đầy ý nghĩa như: “Tủ bánh mì 0 đồng”, “Mái ấm cho em”, “Trao sinh kế cho học trò nghèo”.

null