"Hiệp sĩ" Ba Lan trên đất Việt-kỳ 4: Huế - lời hẹn dang dở

Theo dõi Báo Gia Lai trên Google News

“Mọi người có thể thắc mắc tại sao chúng tôi đến từ một đất nước xa xôi, có một nền văn hóa khác xa và phong tục tập quán cũng khác xa như vậy.

Nhưng chúng tôi đã có mặt ở đây để bảo vệ di sản. Vì chúng ta không phải là người ngoài hành tinh, chúng ta đều ở trên trái đất này. Và trách nhiệm của mỗi người là phải chăm lo cho những di sản!” - Kazik phát biểu như vậy tại lễ khởi công trùng tu Thế Tổ miếu, Huế vào năm 1996.

 

Kazik (phải) tại lễ khởi công trùng tu di tích Thế Tổ miếu.
Kazik (phải) tại lễ khởi công trùng tu di tích Thế Tổ miếu.

“Ngọ Môn stoj?”

Kazik là người thuyết phục Liên hiệp các xí nghiệp phục hồi di tích (PKZ, Bộ Văn hóa và nghệ thuật Ba Lan) lưu tâm đến Huế. Đơn vị này đã cử một đoàn khảo sát di tích Huế và hoàn thành một bản báo cáo rất có giá trị về di tích cố đô, tác động đến sự lưu tâm của UNESCO. Năm 1983, ông mở lớp tập huấn đầu tiên về trùng tu di tích tại Huế.

Giữa thập niên 1990, Chính phủ Ba Lan đồng ý xóa nợ cho VN một dự án lên đến gần 1 triệu USD để trùng tu Thế Tổ miếu. Năm 1996 công trình khởi công và Kazik dành trọn thời gian cho công trình này. Cùng làm còn có người con trai của ông cũng theo ngành của ông là Bartek Kwiatkowski.

Thế Tổ miếu dù đang hiện hữu nhưng thực hiện vô cùng khó khăn. Trước đó để xử lý mối mọt, người ta ra tận công ty hóa chất ở miền Bắc mua mấy phuy thuốc trừ sâu DDT xịt khắp nội thất và đóng cửa mỗi năm ba tháng. Thuốc ngấm vào gỗ làm cả nội thất kiến trúc xỉn màu và lớp sơn thếp nguyên gốc có nguy cơ bong ra.

Nhóm chuyên gia Ba Lan, đứng đầu là Kazik, đã kiên trì, thầm lặng và kỹ lưỡng, nhờ vậy mà giữ được lớp sơn thếp nguyên gốc. Việc chống rêu mốc cho công trình thay vì dùng thuốc Sotox rất đắt, phải đặt từ Ba Lan với nhiều thủ tục nhiêu khê, các chuyên gia ứng dụng công nghệ truyền thống của VN dùng lòng trắng trứng, dớt dây tơ hồng và dầu của cây duối trộn và vữa vôi...

 

Thế hệ tiếp nối

Kazik ra đi khi công việc trùng tu Thế Tổ miếu vẫn còn đó. Và không ai khác, kiến trúc sư Bartek, con trai ông, đã bước tiếp con đường của cha. Nguyên giám đốc Sở VH-TT Quảng Nam - Đà Nẵng Hồ Hải Học cho biết chính Bartek đã bị cha mình thu phục nên khi còn là sinh viên, Bartek đã chọn Mỹ Sơn là nơi thực tập làm luận văn tốt nghiệp đại học và đi theo con đường của cha.

Sau đám tang, Bartek trở lại Huế với cương vị phó đoàn chuyên gia Ba Lan, tiếp tục trùng tu công trình và phương pháp mà người cha Kazik để lại đến khi hoàn thành vào năm 1998. Thế Tổ miếu được làm hồ sơ cực kỳ tốt, trùng tu đúng bài bản, giữ lại lớp son cũ, thay gỗ cực kỳ ít. Đây là công trình được đánh giá trùng tu bài bản và mẫu mực nhất ở Huế hiện nay.

Vừa làm Kazik vừa gửi mẫu về Ba Lan phân tích, kiểm soát tính năng rất kỹ lưỡng. Ông cũng dùng phương pháp nẹp tre giữ lại toàn bộ những mảng khảm sành sứ quý giá...

Cho dù thời gian đó Kazik dành trọn thời gian cho Mỹ Sơn, Hội An và nhiều tháp Chăm khác, song ông cũng bắt đầu “bén duyên” với những đền đài cung điện của Huế. Ông Phùng Phu - nguyên giám đốc Trung tâm Bảo tồn di tích cố đô Huế - nhớ lại:

“Ông nói rằng trước khi đến Huế từng nghe nói là bản sao của Trung Quốc. Nhưng khi đến và xem kỹ thì không phải vậy, rằng người ta nói bậy chứ giá trị di sản của Huế lớn lao lắm. Những khẳng định của ông ngay từ ban đầu đã như định hướng cho Huế, có sự nhìn nhận ra di sản rất nhanh!”.

Kể về người “thầy”, người bạn lớn của mình, cho dù sau chừng 35 năm quen biết nhau và sau gần 20 năm rời xa, nhưng câu chào đặc biệt, thể hiện tình yêu di sản Huế của Kazik vẫn văng vẳng bên tai ông Phu. “Ngọ Môn stoj?” (Ngọ Môn vẫn trụ vững chứ?). “Stoj!” (Vẫn trụ vững!).

“Mỗi lần gặp tôi ông đều hỏi về Ngọ Môn như thế. Ông yêu Ngọ Môn đến nỗi kiến trúc này trở thành câu chào và bao hàm trong đó là sự quan tâm, lo lắng cho Huế!”, ông Phu kể.

Tiễn biệt

Khi công trình trùng tu Thế Tổ miếu đang dang dở, ngày 19-3-1997 Kazik đột ngột qua đời. Cuộc hành trình kéo dài 17 năm của người “hiệp sĩ” Ba Lan đã khép lại. Theo lời kể của ông Phu: “4h chiều hôm ấy chúng tôi có cuộc hẹn làm việc với một tổ chức nước ngoài. Kazik ở phòng 17 khách sạn Thành Nội.

Bartek đang uống cà phê gần đó. Gần 4 giờ, tôi đến đẩy cửa vào thì thấy ông mặc độc quần lót, người dính đầy xà phòng nằm bất động trên giường. Tôi hô hoán lên, Bartek chạy về, chúng tôi gọi xe cứu thương chở sang Bệnh viện Trung ương Huế nhưng không kịp nữa rồi!”.

Khi khâm liệm Kazik, mọi người quyết định mặc cho ông bộ veston mà ông nói sẽ mặc vào ngày hoàn thành trùng tu Thế Tổ miếu vì ngày thường ông ăn mặc rất bình dị.

“Chúng tôi đi chọn gỗ vàng tâm đóng cỗ quan tài lớn, khâm liệm ông theo kiểu Huế, chở ra Hà Nội quàn tại Bệnh viện 108. Sau đó chuyển sang quan tài kẽm đưa máy bay về Nga và sau đó về Ba Lan quê ông” - ông Phu nói đau xót.

Sự ra đi đột ngột của Kazik đã khiến không chỉ những nhà khoa học, nghệ sĩ, các chuyên gia Việt Nam đau xót mà chính những người nông dân chân chất cũng cảm thấy hụt hẫng.

Ngay khi nhận tin Kazik mất, ông Nguyễn Thu (xã Duy Tân, Duy Xuyên, Quảng Nam) vội báo với những “đồng nghiệp” vốn dĩ là những nông dân quê mùa đã cùng sinh tử, đồng cam cộng khổ với Kazik ở Mỹ Sơn.

“Chúng tôi tự làm một mâm cơm để thắp nén nhang tiễn biệt ông” - ông Thu nhớ lại. Ngay sau đó, ông Thu đón xe đò từ Quảng Nam ra Huế để tạ từ người “hiệp sĩ” Ba Lan đáng kính.

Họa sĩ Nguyễn Thượng Hỷ đón nhận hung tin của Kazik từ Huế và ngay trong tối đó, ông cùng nhà văn Thái Bá Lợi vội vàng ra Huế.

“Ông đã dành phần còn lại của cuộc đời mình cho Việt Nam, vì thế khi ông mất, đám tang vừa có đội kèn tây vừa có kèn ta. Bởi ai cũng nghĩ ông là một người Việt Nam thực thụ” - ông Hỷ chia sẻ.

Tại Huế, lễ truy điệu được tổ chức ở nhà Hữu Vu - Hoàng thành Huế, nơi ông đã gắn bó cho đến cuối đời khi đang trùng tu di tích.

Theo tuoitre

Có thể bạn quan tâm

4 ngày làm vợ, 54 năm đợi chờ

4 ngày làm vợ, 54 năm đợi chờ

Sau 54 năm kể từ ngày liệt sĩ Nguyễn Văn Đinh ngã xuống trên chiến trường Quảng Trị, bà Nguyễn Thị Ngọ (Nghệ An) mới được đứng trên mảnh đất ông hy sinh. Hành trình ấy khép lại nỗi khắc khoải của một người vợ, nhưng mở ra câu chuyện lay động về tình yêu, sự thủy chung không phai theo năm tháng.

'Bí kíp' nón ngựa nghĩa quân Tây Sơn

'Bí kíp' nón ngựa nghĩa quân Tây Sơn

Nghệ nhân ưu tú Đỗ Văn Lan (80 tuổi, ông Ba Lan) đang giữ nguyên vẹn “bí kíp” tổ truyền làm “nón ngựa Phú Gia” mà ngày xưa nghĩa quân Tây Sơn đội nắng mưa hành quân thần tốc. Những chiếc nón không chỉ như một tác phẩm nghệ thuật mà còn rất bền.

Tiếng vọng trong những phiến đá rêu phong

Tiếng vọng trong những phiến đá rêu phong

(GLO)- Ẩn mình dưới tán rừng già trên dãy núi Bích Kê, lũy đá cổ Phú Hà (thôn Hòa Tân, xã Phù Mỹ Bắc) lặng lẽ tồn tại như một chứng nhân của thời gian. Những bức tường đá phủ rêu bền bỉ trước mưa nắng dường như đang gìn giữ câu chuyện về một vùng đất từng giữ vị trí trọng yếu trong lịch sử.

Nguyễn Vũ Mạnh Khang trở về trong sự chào đón nồng nhiệt. Ảnh: Hồ Điểm

Từ những câu hỏi về ánh sáng…

(GLO)- Giành huy chương bạc tại kỳ thi Olympic Vật lý châu Âu (EuPhO) 2026, Nguyễn Vũ Mạnh Khang, học sinh Trường THPT chuyên Lê Quý Ðôn (phường Quy Nhơn, tỉnh Gia Lai) góp phần cùng đội tuyển Việt Nam ghi dấu ấn tại sân chơi học thuật quốc tế.

Hành trình lạc lối sau giấc mơ đổi đời

Hành trình lạc lối sau giấc mơ đổi đời

(GLO)- Tin vào những lời hứa hẹn về cuộc sống sung túc và cơ hội định cư ở nước thứ ba, nhiều người dân ở Gia Lai đã vượt biên sang Thái Lan. Những tháng ngày sống chui lủi, thiếu thốn, ly tán là cái giá đắt cho lựa chọn sai lầm, đồng thời là lời cảnh tỉnh về hệ lụy của di cư trái phép.

Chợ ở Quy Nhơn xưa

Chợ ở Quy Nhơn xưa

Với vùng đất Quy Nhơn xưa (nay thuộc tỉnh Gia Lai), tìm hiểu những ngôi chợ cũ cũng là lần giở lại ký ức về quá trình hình thành và phát triển của một đô thị thương cảng, đặc biệt trên phương diện giao thương.

Khép lại cuộc chia ly sau 51 năm

Tìm lại người thân sau 51 năm lưu lạc trên đường 7

(GLO)- Năm 1975, giữa dòng người di tản trên đường 7 (nay là quốc lộ 25), cô bé Hồ Thị Diễm lạc mất gia đình và được người Jrai ở buôn Du (xã Ia Rsai, tỉnh Gia Lai) cưu mang, nuôi dưỡng. Hơn nửa thế kỷ sau, đứa trẻ lạc năm nào bất ngờ tìm lại được người thân nhờ một video trên YouTube.

Khi độc mộc trôi vào ký ức

Khi thuyền độc mộc trôi vào ký ức

(GLO)- Những con thuyền độc mộc thanh mảnh như chiếc lá từng nhẹ lướt trên dòng Pô Cô đã biến mất. Cảm giác tĩnh lặng xuôi dòng bị thay thế bởi tiếng thuyền máy. Bóng người chưa kịp in xuống đáy nước đã nhòa tan theo bọt sóng trắng xóa hai bên mạn thuyền.

“Đường về” của Siu Un

“Đường về” của Siu Un

(GLO)- Sau những sai lầm trong quá khứ, ông vượt qua mặc cảm, thay đổi nhận thức, trở thành người tích cực tuyên truyền pháp luật, vận động bà con sinh hoạt tôn giáo đúng quy định, góp phần giữ gìn bình yên buôn làng.

Những phận đời bới rác mưu sinh

Những phận đời bới rác mưu sinh

(GLO)- Mỗi buổi sáng, khi phố Núi còn bảng lảng sương sớm, những chuyến xe chở rác lại nối đuôi vào khu tập kết rác xã Gào. Giữa mùi hôi nồng và đàn ruồi dày đặc, những người phụ nữ lặng lẽ cúi mình trên nền đất nhớp nháp, cần mẫn bới tìm chai nhựa, lon bia, giấy vụn…

Người gieo rừng trong bình thủy tinh

Người gieo rừng trong bình thủy tinh

(GLO)- Từ 300 triệu đồng có được sau khi bán mảnh đất canh tác duy nhất của mình, anh Thái Xuân Biên (40 tuổi, ở thôn An Thượng 3, xã Cửu An) bước vào lĩnh vực công nghệ sinh học dù chưa từng biết đến phòng thí nghiệm. 6 năm sau, mỗi năm doanh nghiệp của anh sản xuất 19 triệu cây giống.

null