Tuyên bố này được đưa ra sau những đòn tiến công của quân ta trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968. Ngày 13-5-1968, hội nghị 2 bên giữa Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và phái đoàn Mỹ chính thức họp phiên đầu tiên tại Trung tâm Hội nghị quốc tế trên phố Kléber, Paris (Pháp).
Đánh cho Mỹ cút...
Buộc phải ngồi vào bàn đàm phán, nhưng chính quyền Johnson luôn lảng tránh, không đi vào giải quyết các vấn đề cơ bản mà đưa ra những đòi hỏi phi lý nhằm kéo dài đàm phán.
Trên chiến trường, liên quân Hoa Kỳ - ngụy quyền Sài Gòn ra sức thực hiện các cuộc hành quân “quét giữ” hòng tìm kiếm thắng lợi quân sự làm sức ép trên bàn đàm phán. Cục diện đàm phán ở thế giằng co, không có tiến triển do sự khác biệt về lập trường. Việt Nam yêu cầu Mỹ chấm dứt ném bom miền Bắc rồi mới bàn sang các vấn đề khác.
Lập trường của Mỹ là đồng thời bàn về cả 2 vấn đề quân sự, chính trị và đòi “có đi có lại”, tức là cả quân Mỹ và quân đội miền Bắc cùng rút khỏi miền Nam Việt Nam. Một đòi hỏi không thể chấp nhận được, Mỹ đưa quân xâm lược miền Nam thì phải rút khỏi miền Nam là lẽ đương nhiên, còn quân giải phóng miền Nam Việt Nam là quân đội chống xâm lược, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Chỉ có kẻ xâm lược và bè lũ tay sai bán nước mới “nhận thức” theo kiểu ngược đời, là đánh đồng kẻ cướp nước và người giữ nước “cùng rút quân”?
Vì có “chuyện ngược đời” như trên nên việc hội đàm Paris dây dưa, kéo dài cho đến thắng lợi vang dội của quân và dân ta trong cuộc tiến công chiến lược về quân sự Xuân - Hè 1972 ở miền Nam và trận “Điện Biên Phủ trên không” cuối tháng 12-1972 ở Thủ đô Hà Nội.
Bác Hồ đã nhận định: Mỹ nhất định thua “Nhưng chỉ chịu thua sau khi thua trên bầu trời Hà Nội”. Và chúng đã thua đau trên bầu trời Hà Nội, với hàng chục pháo đài bay B.52 tan xác bởi phòng không của ta. Tổng thống Mỹ Richard Nixon dù ngoan cố, xảo quyệt, cuối cùng buộc phải chấp nhận ký Hiệp định đình chiến rút quân về nước.
Ngày 27-1-1973, Hiệp định về chấm dứt chiến tranh lập lại hòa bình ở Việt Nam được ký kết. Hiệp định ghi rõ: “Hoa Kỳ và các nước khác tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất toàn vẹn lãnh thổ của nước Việt Nam như Hiệp định Genève năm 1954 về Việt Nam đã công nhận”; “Các lực lượng vũ trang của hai bên miền Nam sẽ ở nguyên vị trí của mình”.
Còn phía Mỹ “Trong thời hạn 60 ngày kể từ ngày ký Hiệp định này sẽ hoàn thành việc rút hoàn toàn ra khỏi miền Nam Việt Nam mọi quân đội, cố vấn quân sự và nhân viên quân sự, kể cả nhân viên quân sự liên quan đến chương trình bình định, vũ khí, đạn dược và dụng cụ chiến tranh của Hoa Kỳ và của nước ngoài khác...” (Hiệp định Paris-27/1/1973).
Điều đó khẳng định Mỹ đã thất bại, buộc phải rút quân và cam kết chấm dứt mọi dính líu quân sự ở miền Nam Việt Nam. Vế thứ nhất, lời dạy của Bác Hồ đã được thực hiện thành công: Đánh cho Mỹ cút!
...Đánh cho ngụy nhào
Dù phải rút hết quân ra khỏi miền Nam Việt Nam, chính quyền Mỹ vẫn chưa chịu từ bỏ âm mưu xâm lược nước ta, họ tiếp tục viện trợ mọi mặt cho chính quyền tay sai Nguyễn Văn Thiệu nhằm mục tiêu duy trì, điều khiển cuộc chiến tranh xâm lược nước ta dưới hình thức chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh”.
Được Mỹ “hà hơi tiếp sức”, chính quyền Sài Gòn huy động hàng triệu binh lính với đầy đủ trang-thiết bị vũ trang thực hiện cái gọi là “tràn ngập lãnh thổ”, đánh phá, nong lấn ra các vùng giải phóng và căn cứ của ta, lấn chiếm đất đai, giành dân, hòng xóa thế “da hổ, da báo” của ta trên chiến trường.
Ở Tây Nguyên và Gia Lai (cũ), chỉ ngay sau khi Hiệp định Paris ký kết chưa ráo mực, sáng sớm 28-1-1973, lực lượng của Quân đoàn II ngụy mở cuộc hành quân quy mô lớn tấn công lấn chiếm, giải tỏa các vị trí ta làm chủ dọc đường 14, 19 ở phía Bắc và Tây Bắc Kon Tum, Tây Nam Pleiku, các tỉnh lộ 5, 7, 21...
Kế đến, chúng liên tục mở các cuộc “hành quân” càn quét, đánh phá ác liệt các địa phương trong tỉnh (Gia Lai cũ) để giành dân, lấn đất, cắm cờ, triệt phá làng mạc, hủy hoại hoa màu ruộng rẫy, cướp bóc tài sản của nhân dân.
Tại địa bàn Gia Lai (cũ), chúng đã sử dụng đến 1.320 lần máy bay ném bom, bắn phá vùng giải phóng của ta một cách dã man, làm chết và bị thương gần 400 người dân vô tội. Ngoài ra, chúng còn bắt ép đưa vào vùng kiểm soát của chúng hàng vạn người dân ở vùng bất hợp pháp và vùng giải phóng. Trong vùng chúng kiểm soát, chúng ra sức đôn quân bắt lính, đàn áp, bỏ tù những người bất hợp tác, đấu tranh đòi chúng thực hiện Hiệp định và đã “tức nước vỡ bờ”...
Cũng như đồng bào cả nước, bà con các dân tộc Gia Lai (cũ) đang trong không khí tưng bừng mừng vui với ước vọng hòa bình đã trở thành hiện thực. Nhưng niềm vui chưa trọn vẹn vì kẻ thù ra sức chống phá Hiệp định. Dưới sự lãnh đạo của Đảng và Đảng bộ tỉnh, quân và dân trong tỉnh đã phối hợp với quân chủ lực Mặt trận B3, chống địch càn quét lấn chiếm, tổ chức nhiều cuộc đấu tranh chính trị kết hợp đấu tranh vũ trang, theo chỉ đạo của cấp trên: “Đoàn kết toàn dân, đấu tranh trên 3 mặt trận chính trị, quân sự, ngoại giao trong từng lúc, từng nơi mà kết hợp các mặt trận với nhau một cách hết sức chủ động và linh hoạt, giương cao ngọn cờ hòa bình, độc lập, liên hiệp dân tộc, kiên quyết đánh bại mọi âm mưu và hành động phá hoại Hiệp định Paris” (*), sẵn sàng đưa cách mạng miền Nam tiến lên giành thắng lợi hoàn toàn!
Đảng bộ tỉnh Gia Lai phát động phong trào thi đua sôi nổi trong các lực lượng vũ trang với khí thế tiến công, quyết tâm cao để giữ gìn hòa bình, chiến đấu với tinh thần “đánh cho ngụy nhào”, giải phóng Gia Lai, Tây Nguyên, góp phần giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước: “Trường Sơn chuyển mình/ Sông Ba dậy sóng/ Quét sạch quân thù/ Giải phóng Tây Nguyên...”.
Bắt đầu từ mùa Xuân năm 1975, những cuộc tấn công như vũ bão vào các căn cứ của ngụy quân, ngụy quyền Sài Gòn từ Đông Nam bộ đến Tây Nguyên, Trung Trung bộ... Mở màn chiến dịch Tây Nguyên, ngày 10-3-1975, quân ta tấn công và giải phóng Buôn Ma Thuột (Đắk Lắk), buộc chính quyền Sài Gòn phải tháo chạy khỏi Tây Nguyên. Chiến dịch này tạo nên những đột biến rất lớn trên chiến trường, mở đầu cho sự thất bại và tan rã toàn diện của Quân lực Việt Nam Cộng hòa tại miền Nam Việt Nam.
Với chiến dịch mang tên Bác, chỉ trong 55 ngày đã dẫn đến kết thúc 30 năm chiến tranh (1954-1975) và tái thống nhất 2 miền Tổ quốc sau 21 năm bị chia cắt.
Gác lại quá khứ, hướng tới tương lai
Nói về ý nghĩa của ngày Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước 30-4, Người phát ngôn Bộ Ngoại giao nước ta Phạm Thu Hằng từng nói: "Những năm qua đã chứng kiến nỗ lực to lớn của nhiều thế hệ người dân Việt Nam và người dân Mỹ để hai nước phát triển quan hệ được như ngày hôm nay.
Kỷ niệm ngày 30-4 là dịp để tôn vinh những giá trị bất diệt của lòng vị tha của hòa bình của hòa giải và hàn gắn của tinh thần gác lại quá khứ hướng tới tương lai. Từ chỗ là cựu thù, Việt Nam và Mỹ đã bình thường hóa, thiết lập quan hệ ngoại giao vào năm 1995 và xác lập quan hệ đối tác chiến lược vào năm 2013 và gần đây nhất là nâng cấp quan hệ lên đối tác chiến lược toàn diện vì hòa bình hợp tác và phát triển bền vững".
Đó chính là quan điểm của Đảng, Nhà nước và Nhân dân ta và cũng là quan điểm của nhiều người dân Mỹ, bạn bè Mỹ, trong đó có cả những người từng là cựu binh Mỹ tham chiến tại Việt Nam. Việt Nam và Hoa Kỳ từ 2 chiến tuyến, 2 cựu thù nay đã bắt tay nhau để trở thành đối tác chiến lược toàn diện. Dịp này, chúng ta cùng nhau ôn lại quá khứ cũng là để cho các thế hệ hôm nay và mai sau hiểu rõ hơn giá trị của chiến thắng cũng như việc gìn giữ thắng lợi ấy; hiểu rõ hơn giá trị của hòa bình vì sự phát triển của đất nước.
Đâu đó vẫn còn những kẻ thù địch trong và ngoài nước xuyên tạc lịch sử, hòng phủ nhận quá khứ, tuyên truyền, chống phá công cuộc phát triển đất nước, bảo vệ Tổ quốc, giữ gìn hòa bình của Nhân dân ta. Nhưng đó chỉ là hạt cát trên sa mạc, không thể làm thay đổi con đường đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội, làm cho dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh mà Đảng, Bác Hồ và Nhân dân đã chọn!
------------
(*) Lịch sử Đảng bộ tỉnh Gia Lai (1945-2005), NXB CTQG, trang 522.