Tục người Ba Na đặt tên cho con

Theo dõi Báo Gia Lai trên Google News

Với bất kỳ dân tộc nào, hạnh phúc của đôi vợ chồng trẻ sẽ nồng thắm hơn khi họ có được đứa con đầu lòng ra đời. Đứa trẻ sẽ là nhịp cầu nối giữa cha và mẹ thêm gắn bó hơn, là sợi dây thiêng liêng buộc nghĩa tình chồng vợ bền chặt hơn.



 

 Ảnh minh họa
Ảnh minh họa


Một đứa trẻ sinh ra, bất cứ ai, ở đâu và dân tộc nào cũng đều quan tâm đến cái tên của nó. Riêng đối với tộc người Ba Na tuy ít có sự chuẩn bị trước về việc đặt tên cho đứa trẻ; tức không có dự định đặt tên cho con khi đang còn trong bụng mẹ. Song một khi con chào đời thì việc đặt tên là rất cần thiết và khẩn trương, không thể chờ đợi lâu. Bởi người Ba Na quan niệm mọi sự chậm trễ sẽ bị ma quỷ, hay nói đúng hơn là tử thần giành đặt tên trước, và như thế đứa trẻ sẽ kém may mắn hoặc nguy hiểm đến tính mạng.

Ngày xưa, phụ nữ Ba Na nói riêng, và đồng bào DTTS trên địa bàn tỉnh nói chung, đều sinh con ở nhà và nhờ người giúp đỡ bà mẹ “vượt cạn”, đó là các bà mụ vườn mà người Ba Na gọi là “Pơjâu”. Khi bà Pơjâu đỡ đẻ thấy không ai đặt tên cho bé vừa mới chào đời thì nhắc nhở. Nếu cha mẹ và gia đình chưa kịp nghĩ ra cái tên nào thì bà mụ sẽ đặt tạm cho nó một cái tên để người nhà gọi trước khi ma quỷ biết. Sau đó nếu không ưng bụng thì có thể đổi tên khác.

Một cái tên đặt cho một người thường là một từ không có nghĩa. Tuy nhiên đôi khi cái tên lại có nghĩa. Nhất là ở vào thời kỳ xa xưa, qua các câu truyện cổ và truyện hát kể sử thi Ba Na. Các cô gái xinh đẹp thường mang cái tên rất đẹp. Ví dụ như các nàng: Rang Hơnglong (nghĩa là ánh sao), Rang Hu (ánh bạc), Rang Mah (ánh vàng). Rang trong tiếng Ba Na có nghĩa là ánh sáng và cũng có nghĩa là bông, hoa. Ví dụ: Rang Theng (hoa sen), Rang Tơdap (bông gạo), Rang Blo (hoa sổ)… Đó là tên của các cô gái xinh đẹp thường thấy ở trong áng sử thi hoặc ở trong truyện cổ. Còn các chàng trai thời xưa cũng được cha mẹ cưng yêu đặt cho cái tên thật đẹp bằng cách mượn tên của các loài chim rừng. Ví dụ: Dăm Sem Treng (Chim Treng), Dăm Sem Hlum (chim bói cá), Dăm Tre Wet (chim te te), Dăm Sem Plenh (chim én)...

Có một số gia đình có thói quen đặt tên con theo phụ âm đầu của cha hoặc mẹ. Ví dụ: cha tên là A Phan thì các con có thể là A Phu, A Pham, Y Phat, Y Phui...

Riêng những cặp vợ chồng, việc có con gặp nhiều trắc trở, kém may mắn, như bị sinh non, bị tử thần bắt mất khi còn trong bụng mẹ... họ sẽ mượn cái tên gia súc, gia cầm như gà, chó, mèo, heo... để đặt tên cho con; bởi họ quan niệm đặt tên xấu sẽ khiến quỷ thần mủi lòng thương xót mà không bắt đi. Đó là các tên như Ier (tức là gà), Ko (là chó), Meo (là mèo), Nhung (là heo). Khi đặt tên cho con trước đây người Ba Na thường không muốn đặt trùng tên với ai đó mà họ đã biết, đặc biệt là người trong dòng họ hay người cùng một làng. Trong trường hợp có hai người trùng tên nhau (thường là nam giới) sau này khi đã có tuổi tác họ sẽ kết nghĩa anh em. Việc kết nghĩa này, người Bahnar gọi là “Pô\băn”. Hai người gọi nhau là “Pô”. “Pô” có nghĩa là bạn thân thiết. Trường hợp hai người nam có cùng tên, song lại chênh lệch về tuổi tác, họ thường kết nghĩa làm cha con, gọi là “bă kon”. Người lớn chỉ nhận người kia là con khi người kia đã làm xong mọi thủ tục, tức tổ chức một bữa tiệc rượu khá linh đình; có thể thịt một con heo lớn hết cỡ, hoặc đập một con bò làm thịt với nhiều ghè rượu để mời anh em, bà con trong làng đến dự, cùng chứng kiến và cùng chia vui với “bă kon” họ.

Để đáp lại tình cảm của người con, sau này người cha cũng sẽ tặng lại người con kết nghĩa một phần tài sản của mình, như mảnh đất rẫy, hoặc trâu, bò giống để nuôi, giúp cho con kết nghĩa phát triển kinh tế gia đình.

Người mẹ sau khi hạ sinh em bé một ngày sau sẽ làm lễ đặt tên gọi là “Sem por” (đút cơm). Lễ “Sem por” gồm một ghè rượu với một con gà làm thịt. Bà mụ sẽ lấy vài hạt cơm, một miếng gan gà với vài giọt rượu ghè quệt lên môi bé và nói “Đặt tên con là X…, chúc con bú nhiều, sức khỏe tốt, mau lớn… giúp ích cho gia đình, ăn ở tốt với xóm làng, để được mọi người yêu mến”.

Ngày nay xã hội đã văn minh tiến bộ, nên bà con DTTS không còn sinh đẻ ở nhà nữa, mà hầu hết đã đến các cơ sở y tế để sinh. Quan niệm về việc đặt tên cho con cũng đã có những nét thay đổi mới. Có gia đình lấy họ thánh (đạo Công giáo) đặt họ cho con. Có cặp vợ chồng ghép tên của hai người đặt họ cho con… Nhưng A và Y vẫn không thay đổi để phân biệt giới tính nam và nữ.


https://www.baokontum.com.vn/van-hoa-the-thao-du-lich/tuc-nguoi-ba-na-dat-ten-cho-con-25829.html
 

Theo A JAR (baokontum)

 

Có thể bạn quan tâm

Nét đẹp cúng Quý xuân ở đình An Mỹ

Nét đẹp cúng Quý xuân ở đình An Mỹ

(GLO)- Cứ đến ngày 10 tháng 2 hàng năm, người dân phường An Phú (tỉnh Gia Lai) lại tổ chức Lễ cúng Đình làng An Mỹ. Đây là nét đẹp trong đời sống tín ngưỡng của người dân, thể hiện lòng biết ơn các bậc tiền hiền, hậu hiền khai hoang lập đất và cầu cho quốc thái dân an, mưa thuận gió hòa.

Các thung lũng ở Quy Nhơn xưa

Các thung lũng ở Quy Nhơn xưa

(GLO)- Trong cuốn "Du ký Trung kỳ theo đường cái quan", Camille Paris - nhà khảo cổ người Pháp từng tham gia xây dựng đường điện báo tại Trung Kỳ giai đoạn 1885-1889 đã nhắc đến 2 thung lũng nổi tiếng của Quy Nhơn xưa: thung lũng Công và thung lũng Gà.

Lễ cúng Quý Xuân tại tổ đình An Khê

Lễ cúng Quý Xuân tại tổ đình An Khê

(GLO)- Sáng 28-3 (tức mùng 10 tháng 2 âm lịch), tại đình An Khê (phường An Khê, tỉnh Gia Lai), Ban Nghi lễ đình tổ chức lễ cúng Quý Xuân trong không gian linh thiêng, rộn ràng tiếng chiêng, trống giữa tiết trời đẹp nhất của mùa xuân.

Di tích Plei Ơi chào đón du khách

Di tích Plei Ơi chào đón du khách

(GLO)- Khu di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia Plei Ơi - điểm đến mang giá trị tâm linh, lịch sử gắn với truyền thuyết Vua Lửa của đồng bào Jrai ở xã Chư A Thai - vừa được đầu tư đồng bộ, khang trang, sẵn sàng chào đón du khách trong Năm Du lịch quốc gia - Gia Lai 2026.

Lặng lẽ tìm về ký ức nghề xưa

Lặng lẽ tìm về ký ức nghề xưa

(GLO)- Cuối năm 2025, cuốn sách Nghề dệt truyền thống tỉnh Bình Định (từ thế kỷ XIX đến nay) của ThS. Hoàng Bình ra mắt bạn đọc như một công trình biên khảo công phu về một nghề thủ công từng gắn bó mật thiết với đời sống người dân đất Võ.

Bộ chiêng của các thủ lĩnh Jrai trở thành bảo vật quốc gia

Bộ chiêng Kơ Đơ trở thành bảo vật quốc gia

(GLO)- Bộ cồng chiêng Kơ Đơ (niên đại đầu thế kỷ XX) vừa được công nhận là bảo vật quốc gia. Không chỉ là nhạc cụ cổ, chiêng Kơ Đơ còn là hiện vật gắn với những thủ lĩnh Jrai xưa, phản ánh cấu trúc xã hội, đời sống tín ngưỡng và nghệ thuật âm nhạc độc đáo của cư dân Tây Nguyên.

Những mùa xuân huy hoàng trên kinh thành

Những mùa xuân huy hoàng trên kinh thành Hoàng Đế

(GLO)- Thành Hoàng Đế thuộc huyện An Nhơn, tỉnh Bình Định (cũ) là di tích duy nhất còn lại của vương triều Tây Sơn. Đây là một công trình kiến trúc thành cổ khá đặc biệt, sau 6 lần khai quật khảo cổ phục vụ nghiên cứu và trùng tu, đến nay vẫn còn nhiều bí ẩn...

Giai thoại về ba con ngựa nổi tiếng trong lịch sử

Giai thoại về ba con ngựa nổi tiếng trong lịch sử

(GLO)- Trong dòng chảy lịch sử, không chỉ có những bậc anh hùng làm nên huyền thoại, mà còn có những chiến mã góp phần tạo nên kỳ tích. Trong những thời khắc sinh tử, có 3 con ngựa nổi tiếng đã đi vào sử sách như biểu tượng của lòng trung nghĩa và sức mạnh phi thường.

Chất thuần khiết nâng tầm thổ cẩm

Chất thuần khiết nâng tầm thổ cẩm

(GLO)- Với việc hợp chuẩn OCOP, nhiều sản phẩm thổ cẩm Bahnar, Jrai ở Gia Lai bắt đầu định vị được thương hiệu. Quá trình này có công rất lớn của nhiều phụ nữ, nghệ nhân đã dồn tâm huyết từng bước đưa thổ cẩm truyền thống ra thị trường.

Tiến sĩ Lê Quang Lâm cùng câu chuyện tù và Jrai

Tiến sĩ Lê Quang Lâm cùng câu chuyện tù và Jrai

(GLO)- Hiểu về văn hóa Tây Nguyên bắt đầu từ những hiện vật dân tộc học, đó cũng là một trong những cách tiếp cận của TS. Lê Quang Lâm (phường Diên Hồng, tỉnh Gia Lai) khi nghiên cứu về văn hóa của người Jrai. Trong hàng nghìn hiện vật mà ông dày công sưu tầm, có bộ sưu tập tù và Jrai độc đáo.

Giọt nước - Mạch nguồn văn hóa Jrai

Giọt nước - Mạch nguồn văn hóa Jrai

(GLO)- Ở Tây Nguyên, những bước chân đầu ngày của người Jrai hướng về giọt nước của làng. Nguồn nước trong lành từ đó đã đi cùng các buôn làng qua bao mùa rẫy, bao thế hệ; đồng thời lưu giữ những lớp trầm tích văn hóa, tín ngưỡng và nếp sinh hoạt cộng đồng từ ngàn xưa.

null