Tôi đi làm công nhân - Kỳ 3: Bát canh chia nhau ở xóm trọ nghèo

Theo dõi Báo Gia Lai trên Google News
Quanh khu công nghiệp (KCN) khan hiếm phòng trọ, tôi phải tìm thuê ở xa công ty nhưng đổi lại xóm yên tĩnh. Công nhân cùng cảnh xa quê, tình thân quý như một gia đình.

Góc phòng trọ với những hũ rau củ muối của cặp vợ chồng công nhân - Ảnh: TÂM LÊ
Góc phòng trọ với những hũ rau củ muối của cặp vợ chồng công nhân - Ảnh: TÂM LÊ
Mời cơm từng phòng
Xóm trọ của tôi nằm sâu trong khu dân cư thôn Đại Vi, xã Đại Đồng (huyện Tiên Du, Bắc Ninh) cách công ty tầm 4km. Dãy nhà trọ hai tầng, có 10 phòng khép kín, diện tích 12m2 một phòng. Về chất lượng thì phòng không tốt cũng không quá tệ với nhu cầu của công nhân.
Nếu ở một mình thì vừa đủ, nhưng để tiết kiệm và bớt buồn, có phòng ở ghép đôi, phòng hai vợ chồng. Con cái phải gửi ở quê cho ông bà, vì giờ giấc đi làm hạn hẹp nên các cặp vợ chồng không thể mang con cái theo cùng.
Giá tiền 500.000 đồng cho một người ở, nếu ở thêm người sẽ thêm tiền. Phòng trọ lợp mái tấm ximăng, tất nhiên là không có nước nóng lạnh, máy điều hòa. Một công nhân lâu năm động viên tôi: "Mùa hè chỉ nóng ban ngày, ráng chịu sẽ quen thôi, ban đêm đỡ hơn".
Giá điện 3.000 đồng một số, nước 60.000 đồng một tháng. Chủ nhà mắc cho cả xóm một vòi nước máy nhưng chỉ được dùng để nấu ăn, còn tắm giặt bằng nước giếng khoan.
Một nhược điểm nữa là hệ thống vệ sinh kém chất lượng nên không ngăn được mùi hôi thối ngược lên từ cống thoát nước. 
Chị Hoàng Thị Yên, người vừa chuyển phòng, bày cho tôi cách: "Xả nước vào chậu, rồi đặt chậu lên miệng cống sẽ bớt mùi". Nhưng cũng có hai điều "động viên" tôi ở phòng trọ là chiếc giường bằng sắt chắc chắn và khung cửa sổ có tán cây vú sữa thấp thoáng che ánh nắng.
Công nhân trong xóm phần lớn quê ở Thanh Hóa và Hòa Bình, một người quê Tuyên Quang, một người quê Ba Vì và một bạn trẻ ở Bắc Giang là tỉnh gần nhất. Tuy trọ cùng nhau nhưng người làm ca đêm, người làm ca ngày nên hiếm khi có mặt ở nhà đầy đủ.
Người làm ca đêm thì ngày ngủ và ngược lại. Một tháng công ty lại đổi ca, lúc hai ca, khi lại ba ca. Chủ nhật có công nhân vẫn tranh thủ làm thêm, vì tiền công cao gấp đôi ngày thường nên ai cũng ao ước dù cả tuần vất vả không được nghỉ ngày nào. Dây chuyền của tôi ngày nào cũng tăng ca từ 8 lên 12 tiếng, về nhà tắm rửa xong đã 10 giờ tối.
Thi thoảng xóm trọ được khuấy động bởi một, hai công nhân vui tính. Chị Hoàng Thị Yên có biệt danh "bà béo", 9 giờ tối chị đi làm về và ngày nào cũng phải chạy gõ cửa vài phòng để "tám" chuyện rồi ngủ mới ngon giấc. Có bữa nấu ăn mời bạn bè còn dư, chị bê nồi cơm và thức ăn đi khắp xóm hỏi ai đói thì ăn kẻo phí.
Có tối, chị Yên gõ cửa phòng tôi, ân cần thúc giục: "Có bát canh khoai ngon lắm, sẻ đôi cho Lam rồi, ăn đi cho nóng". Mắt tôi cay cay, húp chén canh như chưa bao giờ ngon đến thế. 
Công nhân nam tên Nghĩa ở dưới tầng một, làm ở công ty thực phẩm, có hôm về cũng vui vẻ mua vài gói bim bim, vài quả lựu đi các phòng chia cho từng người, chuyện trò tếu táo vài câu rồi về phòng ngủ.
Bữa nào sang hơn, các công nhân góp tiền mua vài lon bia, nước ngọt, gói đậu phộng, vài quả cóc, ổi, ngồi với nhau chuyện trò. Trong nhiều câu chuyện được bàn luận mỗi tối, chuyện tăng ca, tổ trưởng dây chuyền, hoàn cảnh éo le... được quan tâm hơn cả. 
Có bữa về, chị Yên bức xúc kêu tôi và một bạn nữ phòng bên ra hiên kể lể: "Hôm nay bực lắm, cái đứa con nhỏ, nhà mới xây đang thiếu tiền xin tăng ca mà tổ trưởng nhất định không cho. Lại cho mấy đứa trẻ khỏe, mới đến làm được vài hôm". Ở trong cuộc mới hiểu, công nhân khát khao được tăng ca thế nào!
Những ngày đầu chưa quen việc, thời tiết thay đổi, tôi bị ho sốt triền miên, mọi người động viên mang cho lọ dầu, quả cam. Đôi vợ chồng ở phòng ngoài cùng tầng, nấu cơm gọi tôi sang ăn cho mau khỏe. Những lúc ốm đau, càng hiểu rõ tấm lòng người lao động nghèo dành cho nhau!

Bữa liên hoan chỉ có cái lẩu rau và tí thịt của công nhân xóm trọ - Ảnh: TÂM LÊ
Bữa liên hoan chỉ có cái lẩu rau và tí thịt của công nhân xóm trọ - Ảnh: TÂM LÊ
Sau tiếng cười là ngập nỗi lo
Những tháng đi làm công nhân và ở cùng xóm trọ nghèo, tôi luôn cảm nhận nỗi lo quay quắt không được tăng ca. Khi chưa làm, tôi cứ nghĩ tăng ca là nỗi khổ của công nhân bị ép buộc, bây giờ đi đến đâu cũng thấy đó là mong ước của công nhân.
"Tăng ca mới đủ sống, không tăng có mà chết đói!"- câu trả lời như ném thẳng vào tôi khi hỏi lố sao lại thích tăng ca. Có rất nhiều thứ trông chờ lương công nhân vào cuối tháng. Thậm chí, có người đã làm 7 năm vẫn phập phồng lo lắng.
Chị béo vui tính có một con trai 15 tuổi, cậu bé đang ở với chồng cũ nhưng chị vẫn thường xuyên phải chu cấp tiền. Chị sống một mình, lại đang mang bệnh ung thư tuyến giáp, tuy lành tính nhưng hằng tháng phải đón xe lên Hà Nội khám, điều trị thuốc thang tốn kém.
Ít ai thấy chị buồn ra mặt, chỉ một lần làm ca đêm về chị đóng cửa sớm, hóa ra hôm đó có công nhân nói chị bị bệnh không được dùng chung đồ ăn. "Mình nghĩ nói ra bệnh tình họ sẽ thông cảm, đâu biết lại bị xa lánh, khinh bỉ" - giọng chị trĩu nặng.
Còn Nguyễn Văn Nghĩa quê ở Ba Vì, Hà Nội, làm ở công ty thực phẩm và có bố nhiều năm điều trị gút biến chứng ở bệnh viện Hà Nội. 
Tiền lương của Nghĩa và em gái đang làm công nhân ở KCN Thái Nguyên đều dành để chữa bệnh cho bố. Ngoài 30 tuổi, Nghĩa vẫn chưa lập gia đình, anh luôn tự ti vì chưa có khoản tiền nào tiết kiệm để tính chuyện riêng.
Với mức lương thâm niên 7 năm làm công nhân, chị Bùi Thị Hồng quê ở Hòa Bình vẫn than thở: "Được lương tháng nào hết tháng đó mà em". Mỗi tháng chị phải gửi tiền về để nuôi ba miệng ăn, gồm chồng và hai con ăn học. Chồng chị còn trẻ nhưng biếng làm, chỉ ngồi trông chờ vợ gửi tiền về ăn tiêu.
Có bữa chị điện về cho mẹ chồng than thở: "Con vừa chuyển khoản 2 triệu về cho bố con nó, giờ lại kêu hết. Tiền học của đứa lớn hết 200.000, mà anh ấy bảo con hết 600.000. Tiêu thế thì kiếm sao lại". Đợt nào chưa kịp gửi, anh chồng lại đón xe xuống ở mấy ngày, quanh quẩn hút thuốc lào, nấu ăn rồi dỗ khéo chị cho tiền về.
Cùng xóm trọ, hai phòng đồng hương Thanh Hóa của tôi cũng "hoàn cảnh". Đôi vợ chồng trẻ Sơn và Hoa ở huyện Thạch Thành lúc nào cũng quấn quýt nhau. Hằng ngày chồng đưa đón vợ đi làm rồi lại về nấu cơm. Có bữa 8 rưỡi tối chưa thấy Sơn ăn, thì ra hôm nào Sơn cũng đợi vợ về mới ăn. "Ăn một mình buồn, vợ về muộn hơn nữa cũng vẫn đợi" - Sơn xoa đầu cười nói.
Đến xóm trọ gần hai tháng, nhưng chỉ mình Hoa có việc làm. Bữa hai vợ chồng cùng đi tuyển dụng, Sơn thiếu giấy tờ hồ sơ nên không kịp nộp. Nhiều ngày tìm công ty khác để nộp đơn, đến nay Sơn vẫn chưa có nơi nào gọi đi làm.
Hơn một tuần nay công ty Hoa lại hết việc làm, công nhân phải tạm nghỉ và nhận lương cơ bản 70%. Hai vợ chồng Sơn đã đèo nhau về quê, nói khi nào công ty gọi điện mới ra.
Sát bên phòng tôi là Phạm Thị Ánh, cô làm cùng công ty với Hoa và cũng đang phải nghỉ việc. Cô than thở: "Cứ kéo dài tình trạng thì chết mất, tiền phòng trọ cũng không đủ ấy". Ánh đã ly hôn, chồng cũ không hỗ trợ nuôi hai con nhỏ nên mình Ánh phải cáng đáng. Bà ngoại bệnh tật lại phải trông hai cháu khiến Ánh càng thấp thỏm lo âu.
Bữa cơm chỉ có dưa xào, cá khô của vợ chồng Sơn ăn vẫn dư là mức tiết kiệm cao nhất tôi thấy. Chỗ góc phòng của đôi vợ chồng trẻ khác, cô vợ tên Lam làm cả chục hũ rau củ muối chua, nào măng, sung, cà, rau cải để ăn dần.
Ở xóm trọ nghèo của công nhân, tôi còn thấy nhiều cách tiết kiệm khác, như dù trời đã tối mà nhiều phòng vẫn chưa bật điện. Họ tiết kiệm từng tí để có thêm ít tiền gửi về quê cho con, cho cha, cho mẹ...
Đầu óc trống rỗng, người lơ ngơ như không chạm đất, mắt khô khốc. Ngày trằn trọc không ngủ được, khi chợp mắt lại mơ màng, toàn thân mệt lả không muốn dậy... Đó là trạng thái của tôi những ngày đầu làm ca đêm.
Kỳ tới: Tôi đi làm ca đêm
TÂM LÊ (TTO)

Có thể bạn quan tâm

Một góc trung tâm xã Kon Chiêng.

Đánh thức Kon Chiêng

(GLO)- Từ quốc lộ 19 rẽ vào tỉnh lộ 666 khoảng 40 km thì đến xã Kon Chiêng. Hai bên đường là những triền mía xanh mát, thấp thoáng những mái nhà sàn trong không gian xanh thẳm của núi rừng, gợi về một Kon Chiêng đang vươn mình đổi thay.

Những chiếc bè nuôi thủy sản của ngư dân bị sóng đánh vỡ tan, trôi dạt ven biển.

Xác xơ làng chài sau cơn bão dữ...

(GLO)-Sau cơn bão dữ Kalmaegi (bão số 13), những làng chài vốn yên bình, đầy sinh khí bỗng chốc trở nên xác xơ, trơ trọi và ngổn ngang chỉ sau vài giờ bão quét qua. Cảnh quan rồi sẽ dần hồi phục, nhưng những mất mát, tổn thất vẫn sẽ đè trĩu trên đôi vai người dân ven biển rất lâu nữa...

Cảnh hoang tàn, đổ nát ở làng chài Nhơn Lý, Gia Lai. Ảnh: Đức Nhật

Gượng dậy sau bão

Bão Kalmaegi (bão số 13) đã tan, trên dải đất ven biển Gia Lai, Đắk Lắk, người dân lặng lẽ nhặt lại từng tấm tôn, viên ngói, gom góp chút bình yên từ đống hoang tàn.

Giữa tầng mây giữ trời

Giữa tầng mây giữ trời

(GLO)- Đỉnh Hàm Rồng cao hơn 1.000 m so với mực nước biển. Sườn núi sương mờ bao phủ này là nơi cán bộ, chiến sĩ Đài Quan sát thuộc Đại đội Thông tin (Phòng Tham mưu, Lữ đoàn Pháo phòng không 234, Quân đoàn 34) đồn trú.

Sống chậm với đĩa than trong thời đại số - Kỳ 1: Sự hồi sinh của dòng đĩa Vinyl

Sống chậm với đĩa than trong thời đại số - Kỳ 1: Sự hồi sinh của dòng đĩa Vinyl

Trong thời đại mà một thiết bị đeo tay có thể chứa đến 60 triệu bài hát, việc lựa chọn nghe nhạc từ một chiếc đĩa than tưởng như là lỗi thời. Nhưng thực tế, đó lại là biểu hiện của một xu thế tìm lại sự nguyên bản, chậm rãi và thật lòng trong trải nghiệm thưởng thức.

Sợi tơ mong manh kết nối trăm năm

Sợi tơ mong manh kết nối trăm năm

Khi nói đến sưu tầm đồ cổ ở Việt Nam, người ta thường nghe tới đồ gốm, sành sứ, hay đồ gỗ… chứ ít ai biết đến những món đồ vải mà qua đó thể hiện tay nghề thêu huy hoàng, vang danh thế giới của người Việt hàng trăm năm trước.

Tiến sĩ Nguyễn Minh Kỳ lọt Top 2% nhà khoa học ảnh hưởng nhất thế giới năm 2025.

Tiến sĩ Nguyễn Minh Kỳ và hành trình vào top 2% nhà khoa học ảnh hưởng nhất thế giới

(GLO)- Với nghiên cứu về ô nhiễm vi nhựa và công nghệ xử lý nước thải, Tiến sĩ Nguyễn Minh Kỳ (SN 1985, Phân hiệu Trường Đại học Nông Lâm TP. Hồ Chí Minh tại Gia Lai) được Đại học Stanford (Mỹ) và Nhà xuất bản Elsevier vinh danh trong top 2% nhà khoa học ảnh hưởng nhất thế giới năm 2025.

Người lưu giữ hàng trăm “báu vật” Chư A Thai

Người lưu giữ hàng trăm “báu vật” Chư A Thai

(GLO)- Ở xã Chư A Thai (tỉnh Gia Lai), có một người đàn ông gắn bó cả cuộc đời với những “ký ức triệu năm” còn sót lại dưới lòng đất. Gần 25 năm qua, ông Rcom Sin đã lặng lẽ sưu tầm và trân trọng gìn giữ rất nhiều khối gỗ hóa thạch kết tinh của đất trời.

Sê San: Sông kể chuyện đời…

Sê San: Sông kể chuyện đời…

(GLO)- Dòng Sê San miệt mài chở nặng phù sa; sóng nước bồng bềnh không chỉ kể câu chuyện mưu sinh, bảo vệ phên giậu, mà còn gợi mở tương lai phát triển bền vững, góp phần khẳng định vị thế của vùng biên trong hành trình dựng xây quê hương, đất nước.

Ông Ksor Yung có lối sống trách nhiệm, gần gũi nên được mọi người quý mến. Ảnh: R’Ô Hok

Ksor Yung: Từ lối rẽ sai lầm đến con đường sáng

(GLO)- Từ một người từng lầm lỡ, ông Ksor Yung (SN 1967, ở xã Ia Rbol, tỉnh Gia Lai) đã nỗ lực vươn lên trở thành người có uy tín trong cộng đồng. Ông tích cực tham gia vận động, cảm hóa những người sa ngã, góp phần giữ gìn an ninh trật tự và củng cố khối đại đoàn kết dân tộc.

Thôn Lao Đu giữa bát ngát núi rừng Trường Sơn

Lao Đu đã hết lao đao

Nằm bên đường Hồ Chí Minh huyền thoại, cuộc sống của hơn 150 hộ dân thôn Lao Đu, xã Khâm Đức, TP Đà Nẵng nay đã đổi thay, ngôi làng trở thành điểm du lịch cộng đồng giữa bát ngát núi rừng. 

Bền bỉ gieo yêu thương nơi vùng đất khó

Bền bỉ gieo yêu thương nơi vùng đất khó

(GLO)- Giữa bao thiếu thốn của vùng đất Pờ Tó, có một người thầy lặng lẽ, bền bỉ gieo yêu thương cho học trò nghèo. Thầy không chỉ dạy chữ mà còn khởi xướng nhiều mô hình sẻ chia đầy ý nghĩa như: “Tủ bánh mì 0 đồng”, “Mái ấm cho em”, “Trao sinh kế cho học trò nghèo”.

null