SOS - Ngôi làng của trẻ mồ côi - Kỳ 1: Ông Kutin và làng SOS đầu tiên ở Việt Nam

Theo dõi Báo Gia Lai trên Google News

Có một ngôi làng cưu mang hàng ngàn đứa trẻ không nơi nương tựa. Có những bà mẹ quê nguyện gắn bó cả cuộc đời trong làng để chăm bẵm những đứa con không máu mủ, ruột rà.

 

Ông Helmut Kutin hiện nay, bên những đứa trẻ trong Làng trẻ em SOS Gò Vấp.
Ông Helmut Kutin hiện nay, bên những đứa trẻ trong Làng trẻ em SOS Gò Vấp.
Làng trẻ em SOS Việt Nam là gia đình gần gũi nhất của tôi trong số 134 làng SOS trên thế giới. Tôi không phải cha đẻ họ, nhưng họ là con cái của tôi. Bây giờ, niềm hạnh phúc của tôi chính là được thăng chức lên thành ông nội.

Và ở đó có những câu chuyện tình người đẫm nước mắt...

Cách đây nửa thế kỷ, ở miền Nam xuất hiện một ngôi làng mang tên Làng trẻ em SOS Gò Vấp, nằm kế bên phi trường Tân Sơn Nhất.

Đây là ngôi làng lớn nhất thế giới trong hệ thống các làng trẻ em SOS lúc bấy giờ với 41 ngôi nhà, nuôi dưỡng gần 400 trẻ mồ côi.

Sự ra đời và những giai đoạn thăng trầm của ngôi làng này gắn liền với tâm huyết của một người con nước Ý - ông Helmut Kutin.

Dấn thân đến vùng chiến sự

Năm 1967, chàng trai Helmut Kutin mới 26 tuổi, đang học tập và làm trợ giảng tại ĐH Innsbruck (Áo). Không ít lần chàng sinh viên này xuống đường hòa vào dòng người biểu tình phản đối chiến tranh Việt Nam trên đường phố Innsbruck.

Cuối năm đó, giáo sư Hermann Gmeiner (người sáng lập Làng trẻ em SOS) đã gọi ông đến và đề nghị sang Việt Nam xây dựng một làng trẻ em SOS.

Ông nhận lời ngay và từ tháng 10 đến tháng 12 năm đó ông sang Pháp học tiếng Việt, chuẩn bị hành trình đến vùng chiến sự Việt Nam.

Sở dĩ ông Kutin được giao sứ mệnh đặc biệt này bởi ông cũng là trẻ mồ côi lớn lên ngay trong ngôi làng trẻ em SOS đầu tiên do ông Hermann Gmeiner thành lập.

Theo ông Kutin, ý tưởng xây dựng làng SOS tại Việt Nam xuất phát từ chuyến đi của ông Gmeiner vào mùa xuân năm 1967 đến Việt Nam.

Chứng kiến nỗi đau mất mát gia đình của trẻ em Việt trong thời chiến, ông Gmeiner đã trở lại châu Âu nhờ bạn bè của Làng trẻ em SOS ở Áo và Đức trợ giúp xây dựng làng ở Việt Nam. Vào tháng 3-1968, ông Kutin cùng ông Gmeiner đáp máy bay xuống Sài Gòn.

“Tình hình lúc đó rất căng thẳng, ngài đại sứ Đức đón chúng tôi trong tâm trạng hết sức lo lắng. Mặc dù sự kiện Tết Mậu Thân đã qua nhưng an ninh lúc đó rất kém, nên ông Gmeiner rời Sài Gòn sau đó vài ngày, để tôi tự quyết định hoặc là trở về châu Âu với ông ta hoặc là ở lại. Tôi đã cố gắng để quyết định ở lại vì có rất nhiều trẻ em đang cần chúng tôi” - ông Kutin nói.

Thời điểm đó Chính phủ Đức đã đồng ý chi trả tiền xây dựng làng tại Gò Vấp, toàn bộ các ngôi nhà tiền chế được chuyển từ Áo sang bằng tàu biển.

Chiến tranh ác liệt đã làm chậm tiến độ xây dựng làng, nên đến cuối năm 1968 những ngôi nhà đầu tiên mới hoàn thiện.

Ban đầu, ông Kutin sống trong một căn phòng ở gần chợ Bến Thành, nhiệm vụ của ông lúc đó là tuyển dụng nhân viên và các bà mẹ rồi đưa họ vào Làng SOS Gò Vấp.

Vài năm sau, chính ông Kutin lên Đà Lạt khảo sát, chọn địa điểm để xây dựng Làng trẻ em SOS Đà Lạt, khánh thành vào năm 1974. Cả hai ngôi làng Gò Vấp và Đà Lạt đều do ông làm giám đốc và những đứa con mồ côi trong làng đều gọi ông bằng “bố”.

Tuy nhiên, làng Đà Lạt chỉ hoạt động chưa đầy một năm thì buộc phải đóng cửa. “Chúng tôi rời khỏi Đà Lạt vào tháng 3-1975, tất cả các mẹ và trẻ đã được đưa về làng Gò Vấp.

Cùng với gần 500 trẻ em, mẹ và nhân viên, chúng tôi đã trải qua những ngày cuối cùng của chiến tranh đến ngày 30-4-1975” - ông Kutin kể lại.


 

Trẻ em vui đùa trong Làng trẻ em SOS Gò Vấp.
Trẻ em vui đùa trong Làng trẻ em SOS Gò Vấp.



Trái tim đặt ở Việt Nam

Là đứa con của Làng trẻ em SOS Gò Vấp thời ấy, gọi ông Kutin bằng “bố”, ông Nguyễn Nhiều (60 tuổi) cho biết những thời điểm nguy hiểm nhất của năm 1975 bố vẫn ở bên chở che các con của mình. “Đêm 29-4, bố vẫn xuống hầm hướng dẫn các con tránh pháo kích.

Trong khi các nhân viên quốc tế đã về nước, chỉ còn bố là người nước ngoài duy nhất trong làng thời điểm đó” - ông Nhiều kể.

Ông Kutin ở lại và duy trì hoạt động của làng Gò Vấp đến tháng 3-1976 thì rời Việt Nam trở về châu Âu.

“Tất cả bà mẹ, những đứa trẻ và cả chính tôi cũng tuyệt vọng. Ngày tôi đi, họ đóng cửa làng, nằm dài trên đường để ngăn tôi, nhưng tôi vẫn phải rời đi. Đây chắc chắn là khoảng thời gian khủng khiếp nhất trong cuộc đời tôi” - ông Kutin nhớ lại.

Những đứa trẻ trong làng lúc đó được chuyển về cho thân nhân, những đứa nhỏ tuổi nhất được đưa đến trại mồ côi Thủ Đức.

Những bà mẹ lúc đó cũng có người ở lại, có người trở về quê và mang theo những đứa con không có thân nhân để tiếp tục chăm bẵm. Những năm sau đó, dù sống ở châu Âu nhưng ông Kutin vẫn đau đáu về những đứa con của mình ở Việt Nam, luôn tìm mọi cách để có thể giúp đỡ họ.

“Năm 1977 và 1978, tôi trở lại Việt Nam để đàm phán nhưng không đạt được thỏa thuận. Dù vậy, tôi vẫn tiếp tục giúp đỡ các bà mẹ và trẻ bằng cách gửi tiền bạc và hàng hóa” - ông kể.

Mãi đến năm 1987, ông Kutin mới nhận được lời mời từ Thứ trưởng Hoàng Thế Thiện (nguyên thứ trưởng Bộ LĐ-TB&XH) sang thăm Việt Nam để thảo luận.

Sau chuyến đi này, cả hai bên đã thống nhất ký thỏa thuận xây dựng Làng trẻ em SOS tại Hà Nội và mở lại Làng trẻ em SOS Gò Vấp. Đây cũng là dấu mốc đánh dấu sự tái lập của các làng trẻ em SOS tại Việt Nam sau nhiều năm gián đoạn.

Nhiều năm trực tiếp làm việc với ông Kutin, bà Lê Thiên Hương (nguyên vụ trưởng, trưởng văn phòng thường trực Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội tại phía Nam) cho biết có lần ông đã nói bằng tiếng Việt với bà rằng trái tim ông đặt ở Việt Nam và bản thân ông còn nặng nợ với đất Việt.

“Trong ngăn kéo bàn làm việc của ông luôn có những tấm hình của những đứa con Việt Nam, khi buồn ông lại mang ra ngắm nghía. Đó chính là nguồn an ủi để ông vượt qua mọi cơn muộn phiền, bởi lẽ ông cũng là một trẻ mồ côi” - bà Hương nói.

Về sau này, ông Kutin luôn dành cho Việt Nam một sự ưu ái đặc biệt khi lập các làng trẻ em SOS.

Trong khi các nước trên thế giới chỉ có 1 đến 2 làng, riêng tại Việt Nam thành lập đến 17 làng trẻ em SOS.

Lúc trở thành chủ tịch của Làng trẻ em SOS quốc tế, năm nào ông cũng dành vài tuần trở lại Việt Nam thăm những đứa con của mình. Nhiều lần ông khẳng định mỗi khi ông trở lại Việt Nam là như trở về quê hương, về ngôi nhà của chính mình.

Theo Tuoitre

Năm 1949, tiến sĩ Hermann Gmeiner đã xây dựng mô hình Làng trẻ em SOS đầu tiên tại Cộng hòa Áo với tâm nguyện mọi trẻ em mồ côi đều có một mái ấm gia đình.

Hiện nay, tổ chức này đã hiện diện tại 134 quốc gia và vùng lãnh thổ, trong đó Việt Nam đứng thứ 3 trên thế giới về số dự án và người hưởng lợi.

Tại 17 làng trẻ em SOS trên cả nước có 3.100 trẻ đang được nuôi dưỡng và 2.800 trẻ đã trưởng thành.

Ngoài ra, tại Việt Nam hiện có 12 lưu xá thanh niên, 16 trường mầm non, 12 trường THPT, 4 cơ sở đào tạo nghề, 1 trung tâm y tế do Tổ chức Làng trẻ em SOS quốc tế xây dựng với gần 20.000 người hưởng lợi.

Có thể bạn quan tâm

“Đường về” của Siu Un

“Đường về” của Siu Un

(GLO)- Sau những sai lầm trong quá khứ, ông vượt qua mặc cảm, thay đổi nhận thức, trở thành người tích cực tuyên truyền pháp luật, vận động bà con sinh hoạt tôn giáo đúng quy định, góp phần giữ gìn bình yên buôn làng.

Những phận đời bới rác mưu sinh

Những phận đời bới rác mưu sinh

(GLO)- Mỗi buổi sáng, khi phố Núi còn bảng lảng sương sớm, những chuyến xe chở rác lại nối đuôi vào khu tập kết rác xã Gào. Giữa mùi hôi nồng và đàn ruồi dày đặc, những người phụ nữ lặng lẽ cúi mình trên nền đất nhớp nháp, cần mẫn bới tìm chai nhựa, lon bia, giấy vụn…

Người gieo rừng trong bình thủy tinh

Người gieo rừng trong bình thủy tinh

(GLO)- Từ 300 triệu đồng có được sau khi bán mảnh đất canh tác duy nhất của mình, anh Thái Xuân Biên (40 tuổi, ở thôn An Thượng 3, xã Cửu An) bước vào lĩnh vực công nghệ sinh học dù chưa từng biết đến phòng thí nghiệm. 6 năm sau, mỗi năm doanh nghiệp của anh sản xuất 19 triệu cây giống.

Giữ buôn Jứ!

Buôn Jứ: Hành trình an cư sau những mùa lũ

(GLO)- Mỗi khi mùa mưa đến, người dân buôn Jứ (xã Ia Tul, tỉnh Gia Lai) lại thấp thỏm nhìn con nước sông Ba dâng lên nhanh. Với họ, lũ là nỗi ám ảnh kéo dài qua nhiều thế hệ. Và rồi, sau những trận ngập lịch sử, hàng trăm hộ dân buôn Jứ đang sáng lên hy vọng về một cuộc sống bình yên, tốt đẹp hơn.

Thanh âm buôn cổ

Thanh âm buôn cổ

Người dân buôn cổ M’Liêng vẫn còn gìn giữ nghề thủ công truyền thống cùng nhiều hiện vật cổ. Khi buôn có lễ hội, âm thanh cồng chiêng vang lên như một niềm tự hào của người dân nơi đây. Buôn cổ này may mắn sở hữu một khu rừng thiêng.

Điện Biên - Ký ức không phai, mãi mãi tự hào

Điện Biên - Ký ức không phai, mãi mãi tự hào

(GLO)- Hơn 70 năm trôi qua, những người góp sức làm nên chiến thắng Điện Biên Phủ “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu” đã ở tuổi xưa nay hiếm, nhiều người không còn nữa. Dù vậy, trong từng câu chuyện, từng kỷ vật được gìn giữ, một thời hoa lửa vẫn hiện lên chân thực, xúc động và đầy tự hào.

Linh thiêng nguồn nước giữa đại ngàn

Linh thiêng nguồn nước giữa đại ngàn

Sương sớm còn vương trên những tán rừng già, giăng thành lớp màn mỏng bảng lảng phủ xuống buôn làng. Từng mái nhà dài của người Mnông ở xã Đam Rông 4 (Lâm Đồng) lặng lẽ thức giấc trong tiếng gà rừng gọi sáng, trong mùi khói bếp len qua vách gỗ.

Tình yêu kháng chiến - hạnh phúc trọn đời

Tình yêu kháng chiến - hạnh phúc trọn đời

(GLO)- Chiến tranh dẫu khốc liệt song từ sự đồng hành của những người cùng chung lý tưởng cách mạng, tình yêu đã đơm hoa kết trái, trở thành điểm tựa để người lính vững vàng giữa bom đạn, vun đắp nên hạnh phúc bền chặt sau ngày đất nước thống nhất.

Về lại ga xép

Về lại ga xép

Tôi đã cố cưỡng lại sự mời gọi của chuyến food tour (du lịch ẩm thực) tại trung tâm thành phố Hải Phòng (cũ) để xuống tàu sớm hơn ba ga.

null