Đề án đặt mục tiêu phát triển thủy sản theo hướng hiện đại, hiệu quả, giảm dần cường lực khai thác, bảo vệ và phục hồi nguồn lợi, đồng thời nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho ngư dân, góp phần ổn định kinh tế-xã hội và bảo đảm quốc phòng, an ninh trên địa bàn.
Theo định hướng chung, tỉnh xác định phát triển thủy sản phải gắn chặt giữa khai thác hợp lý với bảo vệ môi trường sinh thái, lấy hiệu quả và tính bền vững làm tiêu chí xuyên suốt. Trong đó, từng bước ứng dụng khoa học - công nghệ tiên tiến vào khai thác, nuôi trồng, bảo quản và chế biến nhằm nâng cao giá trị gia tăng, giảm tổn thất sau thu hoạch, hình thành chuỗi giá trị thủy sản đồng bộ từ sản xuất đến tiêu thụ.
Cơ cấu lại hoạt động khai thác thủy sản
Khai thác thủy sản tiếp tục giữ vai trò quan trọng, song sẽ được tổ chức lại theo hướng giảm quy mô, nâng cao chất lượng. Hiện nay, toàn tỉnh có 5.748 tàu cá, trong đó tàu khai thác vùng bờ còn chiếm tỷ lệ lớn, hiệu quả thấp, gây áp lực lên nguồn lợi thủy sản ven bờ. Sản lượng khai thác năm 2025 đạt khoảng 282.000 tấn, tuy nhiên bộc lộ nhiều hạn chế về cơ cấu đội tàu, công nghệ và quản lý.
Theo lộ trình của Đề án, đến năm 2030, tỉnh giảm số lượng tàu cá xuống còn khoảng 3.800 chiếc; trong đó, ưu tiên phát triển đội tàu khai thác vùng khơi với 2.815 tàu, giảm mạnh tàu vùng bờ xuống còn 520 tàu và vùng lộng còn 465 tàu. Sản lượng khai thác dự kiến đạt 250.000 tấn, với 60 - 70% sản lượng được khai thác bằng công nghệ tiên tiến, thân thiện môi trường.
Cùng với việc cắt giảm đội tàu, tỉnh triển khai các chính sách chuyển đổi nghề, giải bản tàu cá không còn phù hợp; đồng thời sắp xếp, di dời tàu thuyền neo đậu tại cảng cá Quy Nhơn và khu vực đầm Đề Gi về cảng cá Tam Quan. Việc tập trung tàu cá tại một cảng lớn, hiện đại không chỉ nâng cao hiệu quả khai thác mà còn phục vụ công tác quản lý, giám sát, truy xuất nguồn gốc, góp phần thực hiện hiệu quả các khuyến nghị của Ủy ban châu Âu về chống khai thác IUU và đáp ứng yêu cầu của thị trường xuất khẩu.
Phát triển mạnh nuôi trồng thủy sản công nghệ cao
Nuôi trồng thủy sản được xác định là trụ cột quan trọng nhằm giảm áp lực lên nguồn lợi tự nhiên và tạo dư địa tăng trưởng bền vững cho ngành. Đến năm 2030, tổng diện tích nuôi trồng thủy sản toàn tỉnh dự kiến đạt 8.400 ha, với sản lượng khoảng 46.500 tấn.
Trong đó, tỉnh ưu tiên phát triển nuôi biển ứng dụng công nghệ cao, sử dụng lồng HDPE kết hợp trí tuệ nhân tạo để giám sát môi trường, quản lý thức ăn và phòng, chống dịch bệnh, phấn đấu đạt thể tích lồng nuôi 800.000 m³, sản lượng 8.000 tấn/năm. Nuôi thủy sản nước lợ được tổ chức lại theo hướng giảm diện tích còn 1.900 ha, tập trung ứng dụng các công nghệ tiên tiến, bảo đảm an toàn sinh học và bảo vệ môi trường. Nuôi thủy sản nước ngọt được phát triển quy mô lớn trên các hồ chứa, hình thành vùng sản xuất tập trung gắn với chuỗi giá trị, đạt diện tích 6.500 ha, sản lượng 20.000 tấn.
Song song đó, tỉnh chú trọng phát triển hệ thống sản xuất giống thủy sản chất lượng cao, bảo đảm cung ứng ổn định cho sản xuất, đáp ứng yêu cầu tái cơ cấu ngành.
Tăng cường bảo vệ, phục hồi nguồn lợi thủy sản
Bảo vệ nguồn lợi thủy sản là nhiệm vụ lâu dài, mang tính nền tảng. Theo Đề án, tỉnh sẽ thành lập và đưa vào vận hành Khu bảo tồn biển vịnh Quy Nhơn với diện tích khoảng 6.500 ha; đồng thời tổ chức quản lý 7 khu bảo vệ nguồn lợi thủy sản tại các khu vực trọng điểm ven biển, đầm, vịnh.
Các khu vực cấm khai thác thủy sản có thời hạn sẽ được thiết lập tại đầm Thị Nại, đầm Đề Gi và đầm Trà Ổ nhằm tạo điều kiện cho nguồn lợi phục hồi tự nhiên. Bên cạnh đó, tỉnh tăng cường bảo vệ rừng ngập mặn, bảo tồn các loài sinh vật biển quý hiếm, thực hiện hạn ngạch khai thác theo nghề, theo vùng biển, góp phần cân bằng hệ sinh thái và phát triển bền vững.
Phát triển chế biến và dịch vụ hậu cần nghề cá
Hiện nay, năng lực chế biến thủy sản của tỉnh còn hạn chế, tỷ trọng chế biến sâu chưa cao. Đề án đặt mục tiêu nâng công suất các cơ sở chế biến hiện có, tăng mạnh tỷ lệ sản phẩm giá trị gia tăng như fillet, loin, steak, thủy sản đông lạnh chất lượng cao; từng bước hình thành các khu chế biến thủy sản tập trung gắn với vùng nguyên liệu và hệ thống cảng cá, logistics.
Đặc biệt, tỉnh định hướng đầu tư xây dựng cảng cá Tam Quan theo mô hình cảng cá thông minh, ứng dụng công nghệ số, tự động hóa trong quản lý tàu cá, sản lượng, truy xuất nguồn gốc và an toàn thực phẩm; đồng thời hình thành trung tâm đấu giá cá ngừ đại dương và trung tâm logistics lạnh đạt chuẩn quốc tế.
Huy động nguồn lực, tổ chức thực hiện đồng bộ
Tổng nhu cầu vốn thực hiện Đề án hơn 12.280 tỷ đồng, trong đó ngân sách nhà nước đóng vai trò dẫn dắt, kết hợp huy động mạnh mẽ các nguồn lực xã hội hóa và hợp tác công - tư. Sở Nông nghiệp và Môi trường được giao chủ trì, phối hợp với các sở, ngành, địa phương tổ chức triển khai, bảo đảm Đề án được thực hiện đồng bộ, hiệu quả, phù hợp với chiến lược phát triển thủy sản quốc gia và quy hoạch ngành.
Việc triển khai Đề án phát triển thủy sản theo hướng bền vững, hiện đại thể hiện quyết tâm chính trị cao của tỉnh Gia Lai trong bảo vệ tài nguyên, môi trường biển, ổn định sinh kế cho ngư dân, đồng thời tạo động lực mới cho phát triển kinh tế - xã hội trong giai đoạn tới.