Những người đàn ông gìn giữ nghề đan lát ở xã Ia Băng

Theo dõi Báo Gia Lai trên Google News

(GLO)- Bằng sự khéo léo, tài hoa của mình, những người đàn ông ở xã Ia Băng (huyện Chư Prông, tỉnh Gia Lai) đã tạo nên những chiếc gùi bền, đẹp phục vụ nhu cầu sinh hoạt thường ngày và dành tặng cho người thân quý.

Chiều muộn, ông Kpuih Dut (70 tuổi, làng Klăh-Băng) tỉ mỉ chuốt từng sợi nan lồ ô. Đôi tay nhăn nheo song từng động tác đưa dao, chuốt từng sợi nan của ông rất nhẹ nhàng, dứt khoát. Cứ thế, các sợi nan mỏng, nhỏ được xếp gọn gàng bên cạnh, chuẩn bị cho việc đan gùi. Tất cả các kỹ năng ấy, ông Dut học được từ cha mình và tự rèn luyện thêm mỗi ngày. Ban đầu, ông Dut chỉ đan gùi để phục vụ nhu cầu sinh hoạt trong gia đình, thỉnh thoảng tặng cho người thân quý. Lâu dần, những chiếc gùi của ông được nhiều người làng thích vì độ chắc, bền nên tìm đến đặt mua. Nhờ thế, ông cũng có thêm thu nhập và tiếp tục duy trì nghề truyền thống.

Ông Dut đang chuốt nan chuẩn bị cho việc đan gùi tiếp theo. Ảnh: P.D
Ông Dut đang chuốt nan chuẩn bị cho việc đan gùi tiếp theo. Ảnh: P.D

Để có nguyên liệu đan gùi, ông trồng vài bụi lồ ô ở rẫy cà phê cách nhà 2 km. Khi nào cần nguyên liệu, ông trực tiếp đi chọn cây để chặt, rồi nhờ con chở về nhà. Vì theo ông Dut, chỉ khi chọn được cây lồ ô già, lóng dài thì đến lúc chuốt sợi nan mới không sợ bị đứt, gùi cũng có thể sử dụng nhiều năm mà không sợ hư hỏng. Ngược lại, chặt phải cây non, khi chuốt nan, luồn sợi phải cẩn thận mà gùi để mưa nắng vài lần dễ bị mục, rách. “Mỗi tháng, mình bán 2-3 chiếc gùi. Mỗi chiếc từ 250 ngàn đồng đến 400 ngàn đồng, tùy vào kích cỡ. Gùi to là bố mẹ dùng; gùi nhỏ thường là con trẻ đeo”-ông Dut nói.

Vùi 1 thanh sắt nhỏ vào đống than đang đỏ lửa, chờ cho thanh sắt rực đỏ, ông Kpă Na (57 tuổi, làng Bạk-Kuao) dí mạnh vào phần gỗ dưới đế gùi, tạo thành 2 chiếc lỗ tròn. Mục đích để luồn 2 sợi dây, cố định thành quai đeo của chiếc gùi. Ngừng tay, ông Na chia sẻ: “Mình đan 2 chiếc. Một chiếc cho vợ dùng đựng cơm, nước mang lên rẫy. Chiếc còn lại, con trai mình nhờ đan để nó tặng vợ”. Bàn tay phải bị cụt 2 ngón nên việc đan gùi của ông Na khá khó khăn. Tuy nhiên, với mong muốn giữ nghề truyền thống, ông vẫn miệt mài đan những chiếc gùi lớn, nhỏ phục vụ đời sống sinh hoạt trong gia đình.

Ông Na đang tạo những chiếc lỗ nơi đế gùi để luồn dây đeo. Ảnh: P.D
Ông Na đang tạo những chiếc lỗ nơi đế gùi để luồn dây đeo. Ảnh: P.D

“Mình trồng 1 bụi lồ ô, đủ nguyên liệu để đan khoảng 8-10 chiếc gùi mỗi năm. Còn gỗ để làm đế gùi, mình vào rừng tìm cây Chau. Gỗ từ thân cây này mềm nên khi uốn cong không sợ bị nứt, gãy. Một cây có thể làm được 10 đế gùi. Mình chặt sát gốc, 2 năm sau quay lại có thể chặt tiếp”-ông Na cho biết.

Giải thích về việc hầu hết những chiếc gùi đều không có hoa văn, họa tiết, ông Na thông tin: Gùi mình đan chủ yếu dùng trong gia đình nên chỉ cần chắc chắn, dùng bền là được. Cái nào đan để tặng thì mình mới mua sơn màu về quét lên các sợi nan, chờ khô rồi đan, tạo điểm nhấn.

Tương tự, ông Kpă Ngáp (68 tuổi, làng Bạk-Kuao) cũng tranh thủ thời gian rảnh rỗi trong ngày để đan gùi và các vật dụng sinh hoạt trong gia đình (nong, nia). Phần vì ông muốn đan để tiết kiệm chi phí, phần khác là để gìn giữ nghề truyền thống mà cha ông để lại. Theo ông Ngáp, phần khó nhất và mất nhiều thời gian nhất là tạo đế và định hình khung gùi. Xong xuôi 2 phần đó là cơ bản xong chiếc gùi, việc còn lại chỉ cần luồn sợi qua các trụ, siết cho thật khít.

“Trước đây, người dân trong làng, từ già đến trẻ đều dùng gùi. Họ đeo gùi đi chơi, đi lấy nước, lấy củi, lên rẫy,... nên đàn ông trong làng ai cũng biết đan. Bây giờ, có nhiều vật dụng khác thay thế nên người đan gùi cũng ít dần. Mỗi năm, mình chỉ đan 10-12 chiếc gùi để dùng, chia cho các con và tặng người thân. Thỉnh thoảng, mình đan thêm chiếc nong, chiếc nia để sảy thóc, phơi tiêu”-ông Ngáp nói.

Mỗi năm, ông Ngáp đan 10-12 chiếc gùi để dùng, chia cho các con và tặng người thân. Ảnh: P.D
Mỗi năm, ông Ngáp đan 10-12 chiếc gùi để dùng, chia cho các con và tặng người thân. Ảnh: P.D

Xã Ia Băng có 6 thôn, làng. Trong đó có 3 làng (Bạk-Kuao, Klăh-Băng, Phun-Thanh) với tỷ lệ dân tộc thiểu số chiếm trên 30%. Theo ông Kpă Hal-Phó Chủ tịch UBND xã Ia Băng, hiện chỉ còn khoảng 20 người duy trì nghề đan lát. Đa phần đều từ 50 tuổi trở lên. Nguyên nhân số người đan gùi ngày càng giảm là vì gùi không còn sử dụng phổ biến như trước và nguyên liệu dùng để đan gùi cũng bị thu hẹp. Về phía địa phương cũng thường xuyên tuyên truyền, khuyến khích để người dân gìn giữ nghề truyền thống và truyền dạy cho thế hệ trẻ; đồng thời vận động thế hệ trẻ theo học để nghề đan lát không bị mai một.

Có thể bạn quan tâm

Nét đẹp cúng Quý xuân ở đình An Mỹ

Nét đẹp cúng Quý xuân ở đình An Mỹ

(GLO)- Cứ đến ngày 10 tháng 2 hàng năm, người dân phường An Phú (tỉnh Gia Lai) lại tổ chức Lễ cúng Đình làng An Mỹ. Đây là nét đẹp trong đời sống tín ngưỡng của người dân, thể hiện lòng biết ơn các bậc tiền hiền, hậu hiền khai hoang lập đất và cầu cho quốc thái dân an, mưa thuận gió hòa.

Các thung lũng ở Quy Nhơn xưa

Các thung lũng ở Quy Nhơn xưa

(GLO)- Trong cuốn "Du ký Trung kỳ theo đường cái quan", Camille Paris - nhà khảo cổ người Pháp từng tham gia xây dựng đường điện báo tại Trung Kỳ giai đoạn 1885-1889 đã nhắc đến 2 thung lũng nổi tiếng của Quy Nhơn xưa: thung lũng Công và thung lũng Gà.

Lễ cúng Quý Xuân tại tổ đình An Khê

Lễ cúng Quý Xuân tại tổ đình An Khê

(GLO)- Sáng 28-3 (tức mùng 10 tháng 2 âm lịch), tại đình An Khê (phường An Khê, tỉnh Gia Lai), Ban Nghi lễ đình tổ chức lễ cúng Quý Xuân trong không gian linh thiêng, rộn ràng tiếng chiêng, trống giữa tiết trời đẹp nhất của mùa xuân.

Di tích Plei Ơi chào đón du khách

Di tích Plei Ơi chào đón du khách

(GLO)- Khu di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia Plei Ơi - điểm đến mang giá trị tâm linh, lịch sử gắn với truyền thuyết Vua Lửa của đồng bào Jrai ở xã Chư A Thai - vừa được đầu tư đồng bộ, khang trang, sẵn sàng chào đón du khách trong Năm Du lịch quốc gia - Gia Lai 2026.

Lặng lẽ tìm về ký ức nghề xưa

Lặng lẽ tìm về ký ức nghề xưa

(GLO)- Cuối năm 2025, cuốn sách Nghề dệt truyền thống tỉnh Bình Định (từ thế kỷ XIX đến nay) của ThS. Hoàng Bình ra mắt bạn đọc như một công trình biên khảo công phu về một nghề thủ công từng gắn bó mật thiết với đời sống người dân đất Võ.

Bộ chiêng của các thủ lĩnh Jrai trở thành bảo vật quốc gia

Bộ chiêng Kơ Đơ trở thành bảo vật quốc gia

(GLO)- Bộ cồng chiêng Kơ Đơ (niên đại đầu thế kỷ XX) vừa được công nhận là bảo vật quốc gia. Không chỉ là nhạc cụ cổ, chiêng Kơ Đơ còn là hiện vật gắn với những thủ lĩnh Jrai xưa, phản ánh cấu trúc xã hội, đời sống tín ngưỡng và nghệ thuật âm nhạc độc đáo của cư dân Tây Nguyên.

Những mùa xuân huy hoàng trên kinh thành

Những mùa xuân huy hoàng trên kinh thành Hoàng Đế

(GLO)- Thành Hoàng Đế thuộc huyện An Nhơn, tỉnh Bình Định (cũ) là di tích duy nhất còn lại của vương triều Tây Sơn. Đây là một công trình kiến trúc thành cổ khá đặc biệt, sau 6 lần khai quật khảo cổ phục vụ nghiên cứu và trùng tu, đến nay vẫn còn nhiều bí ẩn...

Giai thoại về ba con ngựa nổi tiếng trong lịch sử

Giai thoại về ba con ngựa nổi tiếng trong lịch sử

(GLO)- Trong dòng chảy lịch sử, không chỉ có những bậc anh hùng làm nên huyền thoại, mà còn có những chiến mã góp phần tạo nên kỳ tích. Trong những thời khắc sinh tử, có 3 con ngựa nổi tiếng đã đi vào sử sách như biểu tượng của lòng trung nghĩa và sức mạnh phi thường.

Chất thuần khiết nâng tầm thổ cẩm

Chất thuần khiết nâng tầm thổ cẩm

(GLO)- Với việc hợp chuẩn OCOP, nhiều sản phẩm thổ cẩm Bahnar, Jrai ở Gia Lai bắt đầu định vị được thương hiệu. Quá trình này có công rất lớn của nhiều phụ nữ, nghệ nhân đã dồn tâm huyết từng bước đưa thổ cẩm truyền thống ra thị trường.

Tiến sĩ Lê Quang Lâm cùng câu chuyện tù và Jrai

Tiến sĩ Lê Quang Lâm cùng câu chuyện tù và Jrai

(GLO)- Hiểu về văn hóa Tây Nguyên bắt đầu từ những hiện vật dân tộc học, đó cũng là một trong những cách tiếp cận của TS. Lê Quang Lâm (phường Diên Hồng, tỉnh Gia Lai) khi nghiên cứu về văn hóa của người Jrai. Trong hàng nghìn hiện vật mà ông dày công sưu tầm, có bộ sưu tập tù và Jrai độc đáo.

Giọt nước - Mạch nguồn văn hóa Jrai

Giọt nước - Mạch nguồn văn hóa Jrai

(GLO)- Ở Tây Nguyên, những bước chân đầu ngày của người Jrai hướng về giọt nước của làng. Nguồn nước trong lành từ đó đã đi cùng các buôn làng qua bao mùa rẫy, bao thế hệ; đồng thời lưu giữ những lớp trầm tích văn hóa, tín ngưỡng và nếp sinh hoạt cộng đồng từ ngàn xưa.

null