Thế kỷ XVI - XVIII, Nước Mặn là một trong những trung tâm thương mại quan trọng của phủ Quy Nhơn và Đàng Trong. Dù đã có khá nhiều công trình nghiên cứu về thương cảng này nhưng đến nay vẫn còn nhiều vấn đề về Nước Mặn chưa được làm sáng tỏ, hoặc chưa thống nhất giữa các công trình nghiên cứu.
Nước Mặn - Đô thị, cảng thị, phố cảng hay thương cảng?
Cho đến nay khi đánh giá về tầm vóc, quy mô của Nước Mặn, các nhà khoa học vẫn chưa thống nhất.
Phan Đại Doãn, Vũ Hồng Quân xem Nước Mặn là “thị tứ”; Đỗ Bang nghiên cứu Nước Mặn với tư cách là một “phố cảng” nhưng trong một số công trình khác có lúc cũng xem Nước Mặn là “đô thị”; một số nhà nghiên cứu khác như Lê Đình Phụng, Đỗ Trường Giang gọi Nước Mặn là “thương cảng”; Nguyễn Minh Hoàng tìm hiểu Nước Mặn dưới góc độ “thị tứ”, song vẫn gọi Nước Mặn là “cảng thị”; Nguyễn Xuân Nhân có công trình Cảng thị Nước Mặn thuở phồn vinh… Nhiều nhà Bình Định học cũng gọi Nước Mặn là “cảng thị”. Hiện nay, lễ hội Chùa Bà được tổ chức hằng năm ở Nước Mặn được gọi là lễ hội Chùa Bà - Cảng thị Nước Mặn.
Chính sự không thống nhất này làm cho người đọc cũng như giới nghiên cứu khó định vị Nước Mặn là một “thị tứ” hay đã vươn tới tầm “đô thị”, “cảng thị”… Có lẽ cách nhận định khá thận trọng của Đỗ Bang là ổn nhất khi trong Phố cảng vùng Thuận Quảng thế kỷ XVII-XVIII, ông viết: “Ở nước ta có phố cảng đã phát triển thành đô thị cảng như Hội An. Nhưng có phố cảng chỉ trở lại thân phận làng quê… như: Thanh Hà, Nước Mặn”. Với cách hiểu này chứng tỏ Nước Mặn chưa vươn tới tầm “cảng thị”.
Thực tế cho thấy hoạt động thương nghiệp ở Nước Mặn tương đối phát triển. Chợ, khu phố và cảng ở đây có quy mô khá lớn. Vùng trung tâm thương cảng kéo trải dài trên các thôn từ An Hòa, Hòa Quang (nay là Lương Quang Ngoài thuộc xã Phước Quang, huyện Tuy Phước) đến Vĩnh Xuyên (xã Phước Hòa, huyện Tuy Phước). Tại đây người Hoa lập nên khu phố riêng. Ngoài các đường buôn đến Hội An, Cam Ranh, Gia Định… có thể có thuyền buôn nước ngoài đến Nước Mặn buôn bán. Điều đó cho thấy tuy không thể so sánh với Hội An… nhưng phần “thị” của Nước Mặn đã vươn tới tầm khu vực.
Theo lời kể của Cristophoro Borri, khi ông chọn Nước Mặn là địa điểm xây dựng nhà thờ, mọi việc làm nhà thờ, bảo vệ nhà thờ khỏi hỏa hoạn, đều đặt dưới sự chỉ đạo trực tiếp của quan Trấn thủ Quy Nhơn. Chính quyền chúa Nguyễn chỉ đặt ở đây chức quan Tấn thủ (đóng ở Gò Dinh, thôn Hòa Quang) và một số người giúp việc, binh lính để cai quản thương cảng. Do đó, thương cảng Nước Mặn chưa và không thể đóng vai trò hành chính - chính trị quan trọng của huyện Tuy Viễn (Nước Mặn thuộc huyện Tuy Viễn) cũng như phủ Quy Nhơn.
Nước Mặn vẫn chịu sự kiểm soát của bộ máy chính quyền xã thôn. Nói vui theo kiểu ngày nay, Nước Mặn là thành phố trực thuộc xã. Nhưng một cách nghiêm túc, Nước Mặn tồn tại và lưu danh trong thời gian chủ yếu dựa trên phần “thị” của nó và như thế cũng không hề nhỏ.
Đáng tiếc cho một thương cảng tốt
Nói như vậy không có nghĩa phủ nhận vai trò của Nước Mặn trong lịch sử. Trong thời kỳ phát triển, Nước Mặn thu hút nhiều thương thuyền nước ngoài tới buôn bán. Sách Đông Tây dương khảo (1618) của Trương Nhiếp chỉ rõ: Vào đầu thế kỷ XVII, dưới thời trị vì của Chúa Nguyễn Phúc Nguyên, thương thuyền Trung Quốc tới Thuận Hóa, Quảng Nam, Tân Châu (tức Nước Mặn), Đề Gi buôn bán. Nguyễn Xuân Nhân khẳng định: “Không chỉ vào đầu thế kỷ XVII có nhiều người Hoa tới Nước Mặn buôn bán, lập phố nên cảng thị hình thành như tộc phả họ Quách đã ghi. Việc người Hoa tới Nước Mặn khá đông từ năm 1610 quả có góp phần xây dựng cảng thị phồn vinh, nhưng khi họ tới cảng thị đã hình thành rồi và đang trên đà phát triển”.
![]() |
| Lễ hội Chùa Bà - Cảng thị Nước Mặn được tổ chức vào ngày cuối tháng Giêng và 2 ngày đầu tháng Hai âm lịch. Ảnh: NGUYỄN PHAN DŨNG NHÂN |
Nửa sau thế kỷ XVII trở đi, các thương thuyền Trung Quốc đến Nước Mặn buôn bán ngày càng đông. Vì thế người Hoa tới nhập cư vào Nước Mặn nhiều... Ở thế kỷ XVIII, kể cả thời kỳ Tây Sơn, ngay khi xã hội Đại Việt có nhiều biến động, thương thuyền người Hoa vẫn đến Nước Mặn buôn bán.
Sứ giả người Anh là Chapman đến Quy Nhơn năm 1778 xác nhận: Tại Quy Nhơn có mấy thương thuyền của Macao. Trong cuộc khảo sát Nước Mặn vào năm 1986 của Đỗ Bang và cộng sự, đã thu được nhiều bằng chứng, chứng tỏ hoạt động thương mại của Hoa thương ở Nước Mặn vào cuối thế kỷ XVIII vẫn được duy trì. Họ đã tìm thấy một chiếc đỉnh bằng hợp kim có 3 chân cao 47 cm, đường kính 46 cm, được đúc từ lò Vạn Minh (Trung Quốc) vào năm Đinh Tỵ niên hiệu Gia Khánh (1797). Từ bằng chứng này, Đỗ Bang kết luận: Đến cuối thế kỷ XVIII, phố Nước Mặn vẫn còn hoạt động và có quan hệ giao lưu thương mại với Trung Quốc.
Năm 2005 và 2016, Viện Khảo cổ học Việt Nam và Bảo tàng tổng hợp tỉnh Bình Định tổ chức đào thám sát, khai quật khảo cổ học ở thương cảng Nước Mặn, đã phát hiện nhiều gốm sứ của Trung Quốc (chủ yếu là lò An Huy - Phúc Kiến). So với gốm Hizen (Nhật Bản) và gốm Champa được phát hiện ở thương cảng Nước Mặn, thì gốm sứ Trung Quốc chiếm số lượng nhiều hơn hẳn. Kết quả này góp phần chứng minh cho mức độ hoạt động buôn bán của thương nhân Trung Quốc ở Nước Mặn trong giai đoạn này.
Vì sao Nước Mặn không thể phát triển như Hội An?
Đối sánh Nước Mặn và Hội An, cho thấy giữa chúng có nhiều điểm tương đồng cũng như khác biệt. Chính từ đây, một số học giả đặt vấn đề: Vì sao Nước Mặn không thể vươn tới “tầm Hội An”? Vì sao Nước Mặn không có các khu phố người Nhật? Vì sao thương nhân phương Tây ít đến Nước Mặn giao thương? Có thể luận giải mấy nguyên do cơ bản sau.
Đầu tiên là do sự tác động của yếu tố chính trị đến sự phát triển của Hội An và Nước Mặn khá lớn, thể hiện qua nhiều chính sách, trong đó điển hình nhất là quy định nộp thuế, xin lệnh trước khi vào buôn bán.
Ví như ở thế kỷ XVII, thuyền buôn nước ngoài tới Nước Mặn buôn bán đều phải xin ngự Châu ấn của Trấn thủ Quảng Nam và nộp thuế. Tàu đến Tân Châu (Quy Nhơn) và Đề Gi buôn bán phải bỏ ra nhiều ngày ra Quảng Nam nộp thuế ở đó. Cách quản lý này gây bất lợi cho ngoại thương ở Nước Mặn.
Khẳng định sự bất lợi này, thương nhân người Pháp Pierre Poivre thuật lại, có một thương cảng khác gọi là Nước Mặn, là một cảng tốt, an toàn, được lái buôn lui tới nhiều, nhưng kém hơn Faifo (tức Hội An), lại không thuận tiện vì quá xa kinh thành, mà các thuyền trưởng thì phải đến kinh thành nhiều lần và phải đi ròng rã tới 6 ngày đường.
Đây chính là nguyên nhân lý giải vì sao thương thuyền nước ngoài ít tới Nước Mặn buôn bán, mức độ tập trung của khu phố người Hoa ở đây thấp hơn so với Hội An, và Nước Mặn không có khu phố người Nhật như ở Hội An.
Yếu tố tự nhiên cũng tác động lớn tới sự phát triển và suy tàn của Nước Mặn. Thương cảng này nằm bên một nhánh của sông Côn. Nhánh sông này sớm bị bồi lấp, chuyển dòng, đánh dấu sự chấm hết về giao thông đường thủy và Nước Mặn lụi tàn là một tất yếu.
Ngoài ra, Nước Mặn còn chịu sự chi phối của các yếu tố khác, song có thể khẳng định, chính sách của chính quyền phong kiến, sự tác động của yếu tố tự nhiên là 2 yếu tố quan trọng nhất tác động đến sự phát triển và lụi tàn của Nước Mặn.
***
Nước Mặn là thương cảng cách chúng ta chưa xa, tuy nhiên do sự khan hiếm về tư liệu, nhiều vấn đề khoa học liên quan đến thương cảng này đang đặt ra và chưa được giải quyết trọn vẹn. Hy vọng trong tương lai sẽ có thêm nhiều tư liệu mới, nhất là các tư liệu khảo cổ học, giúp các nhà nghiên cứu tiếp cận sâu sắc hơn về thương cảng này. Đánh giá chính xác hơn nữa vai trò, vị trí của Nước Mặn trong lịch sử sẽ góp phần làm giàu sử liệu về Bình Định, trước mắt sẽ giúp Lễ hội Chùa Bà - Cảng thị Nước Mặn sinh động hơn.
NGUYỄN CÔNG THÀNH
(Tiến sĩ Sử học, Giảng viên Trường ĐH Quy Nhơn)
