Làng Việt Nam: Nhà văn Nguyễn Chí Trung và Bức thư làng Mực

Theo dõi Báo Gia Lai trên Google News

Có một làng ở miền núi Quảng Nam mang tên là làng Mực. Khác với tất cả các loại mực, làng Mực này không đen, mà chói sáng.

Nhà văn Nguyễn Chí Trung đã viết truyện ngắn nổi tiếng Bức thư làng Mực năm 1969, kể chuyện vì sao cái làng bà con dân tộc ở Quảng Nam này chói sáng:

"Tiếng hú vang mãi như muốn nhờ cành cây, ngọn gió, nhờ con chim băng qua núi Giàng vượt qua dòng A Vương trả lời cái bức thư làng Mực vừa gửi đi tất cả mọi nơi".

Sông A Vương là phụ lưu sông Bung, một nhánh của sông Thu Bồn chảy qua địa phận Quảng Nam.

Sông A Vương được nhắc nhiều lần trong tác phẩm Bức thư làng Mực
Sông A Vương được nhắc nhiều lần trong tác phẩm Bức thư làng Mực

Ấy là khi làng Mực, cử một trai làng biết chữ, lấy bút chấm vào "mực" là ý chí, là lòng dũng cảm của dân làng, viết bức thư tâm huyết gửi tất cả các làng, kể về một câu chuyện:

"Ngày 25 tháng 5 năm 1962, làng Mực hạ được một chiếc máy bay Mỹ. Máy bay khu trục, do Nhật, du kích làng Mực bắn. Một phát thôi. Bằng súng trường.

Các làng nói: làng Mực bắn được máy bay mà không phấn khởi.

Bữa trước dân làng Mực có sợ thật. Dân làng Mực đã họp đại hội. Dân làng Mực báo tin cho các làng biết là: Bữa nay, dân làng Mực không sợ nữa".

"Không sợ nữa!" là thông điệp của dân làng Mực gửi tới tất cả các làng. Ban đầu, bắn rớt máy bay địch, đáng lẽ phải vui mừng, nhưng dân làng Mực lại… sợ. Đơn giản, vì sợ địch trả thù. "Bữa nay, dân làng Mực không sợ nữa".

Lời lẽ bức thư cứ mộc mạc nhẹ nhàng, nhưng trong những năm kháng chiến chống xâm lược, bức thư ấy là thông điệp làng Mực gửi tới tất cả các làng trong cả nước: Không việc gì phải sợ kẻ xâm lược. Cứ đánh được nó, thì nó phải sợ mình.

Nguyễn Chí Trung là nhà văn kiêm người lính đã lăn lộn qua rất nhiều địa bàn miền Trung trong kháng chiến. Bức thư làng Mực được ông viết trên rừng chiến khu Quảng Nam vào năm 1969.

Ngay khi truyện ngắn này được "từ miền Nam gửi ra" Hà Nội và được đăng trên Báo Văn nghệ, được đọc trên Đài tiếng Nói Việt Nam, vào đúng thời điểm cuộc kháng chiến chống xâm lược ở vào giai đoạn gay go căng thẳng nhất, Bức thư làng Mực đã thành một bức thư, một thông điệp từ chiến trường miền Nam gửi ra miền Bắc, khẳng định tất cả các làng ở miền Nam, không phân biệt làng ở miền núi hay miền xuôi, đều không sợ địch, đều biết cách đánh thắng địch, cụ thể là biết dùng súng trường bắn rớt máy bay địch.

Trong truyện ngắn Bức thư làng Mực, từ khi làng Mực bắn rớt máy bay địch, tới khi các làng khác ở miền núi Quảng Nam cũng học tập làng Mực bắn hạ máy bay, thì tên làng gắn liền với chiến công, với lòng quả cảm Việt Nam.

Mỗi chúng ta đều có làng quê của mình, và đều có, không ít thì nhiều, niềm tự hào về làng mình. Người dân làng Mực cũng vậy. Nhưng họ, qua truyện ngắn của nhà văn Nguyễn Chí Trung, còn muốn lan tỏa niềm tự hào về ngôi làng mình tới tất cả những ngôi làng khác, cùng muốn rủ rê những làng khác thi đua bắn rớt máy bay địch như làng Mực của mình.

Sông A Vương gắn với nhiều ngôi làng đồng bào dân tộc thiểu số ở miền núi Quảng Nam
Sông A Vương gắn với nhiều ngôi làng đồng bào dân tộc thiểu số ở miền núi Quảng Nam

Sinh thời, nhà văn Nguyễn Chí Trung viết ít tác phẩm, vì ông mải lo chiến đấu, hết chiến trường Việt Nam lại sang chiến trường Campuchia, hết Mỹ tới Tàu, rồi tới Pol Pot. Viết ít, nhưng chỉ cần một Bức thư làng Mực, Nguyễn Chí Trung đã ghi dấu ấn văn học của mình. Và thật thú vị, truyện ngắn ấy viết về một ngôi làng Việt Nam, nối tiếp truyện ngắn Làng rất nổi tiếng từ thời chống Pháp của nhà văn Kim Lân.

Nối tiếp niềm tự hào về làng Việt.

Với nhà văn, thì viết hay quan trọng hơn viết nhiều. Sau hòa bình hai mươi năm, Nguyễn Chí Trung mới viết tiểu thuyết Tiếng khóc của Nàng Út, tác phẩm đã mang về cho ông "Giải thưởng Nhà nước".

Với nhà văn Nguyễn Chí Trung, tôi có nhiều kỷ niệm vui và đẹp khi là lính của ông ở Trại sáng tác Quân khu 5, từ đầu năm 1976 tới cuối năm 1979. Không có một nhà văn - thủ trưởng như ông Trung, tôi khó lòng viết được nhiều trường ca và thơ ngắn về chiến tranh như đã có. Một nhà văn không chỉ biết lo cho tác phẩm của mình, mà còn lo cho tác phẩm của nhiều nhà văn, nhà thơ khác trong Trại sáng tác Quân khu 5, góp phần hết sức quan trọng tạo nên một đội ngũ những nhà văn viết về chiến tranh và thời hậu chiến thực sự có tầm vóc.

Thì viết văn hay làm thơ cũng cần và giống như dân làng Mực bắn máy bay địch ấy mà. Nhà văn - người lính Nguyễn Chí Trung đã nghĩ như vậy, đã làm như vậy, như chính những nhân vật của ông đã nghĩ và đã làm.

Tôi, Thái Bá Lợi, Trung Trung Đỉnh… đã bước ra văn đàn từ "ống tay áo quân phục" của nhà văn Nguyễn Chí Trung, từ Bức thư làng Mực hết sức chói sáng của ông.

Nay thì ông Nguyễn Chí Trung đã vĩnh biệt đồng đội, vĩnh biệt đàn em, nhưng mỗi khi đọc lại Bức thư làng Mực lại bồi hồi nhớ ông.

Làng Mực, một ngôi làng bình dị ở miền núi Việt Nam, qua ngòi bút Nguyễn Chí Trung, đã và sẽ còn chói sáng lâu dài.

Theo Thanh Thảo (TNO)

Có thể bạn quan tâm

Đất Vua xứ Rượu…

Đất Vua xứ Rượu…

(GLO)- Những ngày đầu thu, khi cái nắng miền Trung đã bớt gay gắt, những cơn mưa bắt đầu ghé qua nhiều hơn, đất trời xứ An Nhơn cũng dịu lại. Lúc đầy lúc vơi, sông Côn vẫn lặng lẽ chảy qua những xóm làng, mang theo phù sa và câu chuyện của một vùng đất từng là kinh đô. 

Món quà nhỏ nối dài lòng tốt

Món quà nhỏ nối dài lòng tốt

Mỗi lần nấu cơm cho gia đình, chị Trương Thị Phượng lại chuẩn bị thêm một, hai suất. Hôm nay, trong những chiếc hộp được xếp ngay ngắn là cơm trắng, khoai tây xào, gà xào và canh nóng. Chị chụp lại phần cơm, đăng lên nhóm “Cho tặng đồ miễn phí tại Hà Nội”, rồi chờ người cần đến nhận.

Phía sau đầu sóng Trường Sa

Phía sau đầu sóng Trường Sa

Bán đảo Cam Ranh nắng gió có một khu đô thị đặc biệt mang tên Khu đô thị Căn cứ quân sự Cam Ranh (Khánh Hòa). Sau những ô cửa bình yên nơi đây là mái ấm của các gia đình quân nhân, trong đó có những người vợ đang ngày ngày thay chồng chăm lo tổ ấm, khi các anh làm nhiệm vụ nơi đầu sóng Trường Sa.

Thầy tôi là nhà cách mạng làm thơ

Thầy tôi là nhà cách mạng làm thơ

Tôi gọi cha tôi bằng 'thầy' vì ông cụ muốn tôi nhớ lại gốc gác của mình từ một làng nào đó ở đất Nghệ An. Người Bắc hay gọi cha là thầy, mẹ là u. Bên nội tôi là người di dân, vào Quảng Ngãi từ mấy trăm năm trước.

Lưu giữ ký ức thời hoa lửa bằng công nghệ

Lưu giữ ký ức thời hoa lửa bằng công nghệ

(GLO)- Chiến tranh đã lùi xa hơn nửa thế kỷ. Những người trực tiếp đi qua những năm tháng khốc liệt ấy, nay đều đã ở tuổi xế chiều. Nhưng thời gian không chờ đợi ai. Khi những nhân chứng dần vắng bóng, cũng là lúc nhiều mảnh ghép ký ức về lịch sử dân tộc không còn cơ hội được kể lại.

Lộ Diêu vươn mình từ gian khó

Lộ Diêu vươn mình từ gian khó

(GLO)- Trước đây, Lộ Diêu (phường Hoài Nhơn Đông) như một thế giới tách biệt với bên ngoài. Ðặc trưng địa hình và cuộc sống của người dân nơi đây được đúc kết qua câu: “Lộ Diêu một biển ba đèo - Gian nan đã vượt, khó nghèo đã qua”.

Làng xưa nay đã đổi thay

Làng xưa nay đã đổi thay

(GLO)- Sau khi về định cư ở vùng đất mới, cuộc sống của người dân 4 làng Plei Pông, Kinh Pêng, Plei Trớ và Plei Hek thuộc xã Chư A Thai (là các làng căn cứ cách mạng trong 2 cuộc kháng chiến chống Pháp và Mỹ, còn gọi là 4 làng Ðồn) đã có nhiều đổi thay rõ nét.

Mang con dấu đến bản

Mang con dấu đến bản

Hai đứa con đã 15 và 13 tuổi, nhưng lần đầu tiên, vợ chồng anh Moong Văn Phong mới đi làm khai sinh cho con khi Trung tâm Phục vụ hành chính công xã Nhôn Mai (Nghệ An) mang con dấu đến tận bản để làm thủ tục cho dân.

Nửa đời tìm cha, một đời lưu giữ ký ức

Nửa đời tìm cha, một đời lưu giữ ký ức

(GLO)- Hơn nửa thế kỷ sau chiến tranh, cựu chiến binh Trần Duy Đức vẫn lặng lẽ đi tìm những mảnh ghép của quá khứ. Từ hành trình tìm lại hình bóng người cha liệt sĩ, ông dành cả cuộc đời sưu tầm, ghi chép và lưu giữ lịch sử quê hương cùng những câu chuyện về những con người đã làm nên lịch sử.

null