Làng Việt Nam: Thi Phổ Nhứt từng được mệnh danh 'tiểu Đồng Nai'

Theo dõi Báo Gia Lai trên Google News

Làng tôi cũng giống như bao làng khác ở Việt Nam. Ngày xưa, làng có tên Thi Phổ Nhứt, được mệnh danh là 'tiểu Đồng Nai' vì ruộng làng tôi là nhất đẳng điền, lúa cấy xuống vươn lên xanh ngát một màu. Vụ mùa cũng như vụ chiêm, lúa thu hoạch mỗi sào tính bằng nhiều giạ. Không thua gì lúa Đồng Nai.

Từ lúc mới sinh, tôi đã ở làng mình. Vào lứa tuổi thấy cái gì cũng lạ, cái gì mình cũng tò mò muốn biết, tôi đã biết lội ruộng, biết con đỉa bám chân hút máu mình, biết con cua kẹp tay mình đau điếng...

Và cái biết lớn nhất, là biết bơi trên con sông Thoa chảy qua trước nhà mình. Sông không rộng nhưng nước rất trong. Tôi được thầy tôi (ông cụ thân sinh) tập bơi, vì như ông bảo, trẻ con ở gần sông phải biết bơi để tự bảo vệ mình khỏi đuối nước.

Sông Thoa, con sông gắn với làng quê của nhà thơ Thanh Thảo - tác giả bài viết
Sông Thoa, con sông gắn với làng quê của nhà thơ Thanh Thảo - tác giả bài viết

Tôi đã tập và biết bơi rất nhanh. Không chỉ biết bơi kiểu chó, rồi biết bơi sải, tôi còn biết bơi ếch, bơi đứng, bơi ngửa là những kiểu bơi khó hơn. Năm ấy tôi mới 6 tuổi. Từ con sông nhỏ ở làng mình, khi lớn lên, vào bộ đội rồi đi chiến trường, nhờ biết bơi mà tôi rất tự tin khi cần băng qua sông lớn. Ở chiến trường Nam bộ sông rạch ngang dọc mà không biết bơi thì nguy hiểm lắm.

Làng tôi ngày kháng chiến cũng vắng lặng như nhiều làng khác, vì con trai lớn đều đi vệ quốc đoàn, thầy tôi đi kháng chiến, nên ở nhà chỉ có hai má con tôi. Nhưng trẻ con lứa tôi ở làng thì không thiếu.

Tôi suốt ngày chạy chơi với đám trẻ bạn tôi, trời nắng nóng thì nhảy xuống sông tắm, bơi qua bơi lại sông Thoa, thật đã đời.

Người dân mưu sinh ở sông Thoa
Người dân mưu sinh ở sông Thoa

Từ nhỏ cho đến năm 8 tuổi, tôi chưa bao giờ rời làng mình. Những trò chơi con trẻ, tới bây giờ tôi vẫn nhớ. Nó làm nên ký ức tuổi thơ tôi.

Năm lên 7 tuổi, tôi cũng được đi học lớp 1 ở trường làng, cùng chúng bạn ê a từng con chữ. Được cái tôi biết chữ nhanh. Đọc được sách từ trước khi đi học. Nhưng ở làng tôi thuở ấy, làm gì có sách mà đọc.

Thỉnh thoảng, thầy tôi từ chiến khu về nhà, mang vài quyển sách chính trị, tôi vồ lấy đọc, mà chẳng hiểu gì cả. Nhưng các trò chơi của trẻ con, những con chuồn chuồn con cá con cua, thì tôi biết. Và rất thân quen với chúng.

Năm 1954, lúc tôi 8 tuổi, kháng chiến thắng lợi, tỉnh Quảng Ngãi tổ chức lễ mừng thắng lợi rất to. Tôi theo thầy tôi ra thị xã Quảng Ngãi, lần đầu tôi mới biết thế nào là một thị xã.

Hồi đó thị xã Quảng Ngãi cũng rất nhỏ thôi, nhưng với tôi là quá lớn. Cũng lần đầu tiên, tôi biết cái bóng đèn điện sáng thế nào. Thật kinh ngạc. Với một đứa trẻ nhà quê, đó được coi là "khai sáng".

Những điều kỳ lạ bên ngoài làng mình, mới biết thì rất thích thú, còn làng quê mình, những cái mình biết thật quá nhỏ bé, nhưng chúng sống rất lâu trong tâm hồn mình, cả đời người chứ không phải vài chục năm.

Vâng, năm lên 8 tuổi, tôi được đi tập kết ra Bắc, rồi từ đó, bao nhiêu sự việc ập đến với đời tôi, nên ngôi làng nhỏ bé của tôi chìm sâu tận đáy lòng. Mình ít nhớ đến nó, mà cũng chẳng biết lúc nào thì được về làng, vì chiến tranh kéo dài quá lâu.

Mưu sinh ở sông Thoa
Mưu sinh ở sông Thoa

Tôi đã xa làng tôi đúng 21 năm. Cả một cuộc chiến tranh. Cuối năm 1970 tôi vào chiến trường Nam bộ, mãi tới hòa bình thống nhất năm 1975 mới có cơ hội về thăm làng quê mình.

Đó là đầu tháng 6 năm 1975, khi tôi theo đoàn nhà văn miền Trung đi từ Sài Gòn qua rất nhiều tỉnh, thành trước khi về Quảng Ngãi. Tôi đã kéo nhà thơ Ngô Thế Oanh về làng tôi. Vẫn là làng Thi Phổ Nhứt đó thôi, mà tôi xa làng đúng 21 năm. Vẫn nhớ đường về. Nhớ cầu Giắt Giây. Nhớ Cầu Đập. Nhớ cả con đường đất nhỏ dẫn xuống nhà mình.

Làng tôi gặp lại sau 21 năm vẫn như không có mấy thay đổi. Chiến tranh không tàn phá nhiều, làng vẫn nghèo như khi tôi rời đi lúc 8 tuổi.

Suốt thập niên 70, rồi thập niên 80, làng tôi vẫn vậy. Những năm thầy má tôi còn tại thế, vợ chồng con cái tôi vẫn thường xuyên về nhà mình, làng mình, nhất là mỗi dịp tết, gia đình tôi ở Quy Nhơn đều về ăn tết với thầy má chúng tôi ở làng quê Thi Phổ.

Dù ở Quy Nhơn thời bao cấp xe đò rất khó mua vé.

Bài thơ Ở quê nhà, tôi viết năm 1982 là đúng với cảnh vật và tâm trạng của tôi hồi đó. Vẫn là những hàng cau tới mùa trổ hoa, nhưng cảm giác như vừa yêu thương vừa xa lạ, và không khí ngôi làng lặng thầm, ban ngày lặng lẽ, ban đêm không có điện chỉ thắp đèn dầu, thì đúng là "sống thầm". Chỉ ký ức về tuổi thơ của mình ở làng thì vẫn sáng tới từng chi tiết nhỏ:

những cây cau đã trổ hoa

yêu thương xa lạ

nơi không khí biến ta thành lặng lẽ

dẫu muốn ồn ào biết ồn ào với ai

con đường mấy mươi năm mòn dần dưới chân người chân trâu chân mưa

đường lầy thụt dẫn về yên tĩnh

ta đã có những con chuồn chuồn con cá con cua

ta đã có nỗi cô đơn ngọt ngào trẻ nhỏ

gần như một bức tường vô hình dựng lên

bao bọc tuổi thơ quê nhà mấy mươi năm xa cách

thỉnh thoảng ta về nhìn ngắm lại

phần đời đầu tiên con đường loang những vết bùn

nơi mùi hoa cau thơm đậm hơn

lúa xanh hơn dòng sông hiền hơn tất cả

hoàng hôn xuống như một người gánh rạ

gánh sắc vàng đang sẫm dần

Đây là bài thơ tôi viết tặng làng mình, thơ đầy yêu thương lặng lẽ, giống như không khí làng tôi.

Chúng ta có thể sống ở làng cả đời, có thể sống chỉ một số năm, nhưng cái tình với làng mình thì trước sao sau vậy, vẫn âm thầm và chung thủy.

Theo Thanh Thảo (TNO)

Có thể bạn quan tâm

Ruổi rong đời chăn vịt

Ruổi rong đời chăn vịt

(GLO)- Sau mỗi mùa gặt, những cánh đồng lúa ở các xã An Lương, An Hòa, An Vinh, Tuy Phước… lại rộn ràng bởi đàn vịt hàng nghìn con tìm về kiếm ăn. Gắn với đàn vịt, những người chăn vịt miệt mài rong ruổi qua nhiều cánh đồng, lấy mùa gặt làm nhịp mưu sinh.

Trầm tích sông Ba

Trầm tích sông Ba

(GLO)- Sông Ba đoạn qua xã Ia Dreh (tỉnh Gia Lai) mùa khô, vài con thuyền đánh cá nằm gối đầu nghỉ ngơi trên những doi cát. Chiều xuống, từ những bến sông, người dân vẫn ra tắm mát dù nước cạn tới mức có thể lội ra giữa dòng.

Nửa đời tìm cha, một đời lưu giữ ký ức

Nửa đời tìm cha, một đời lưu giữ ký ức

(GLO)- Hơn nửa thế kỷ sau chiến tranh, cựu chiến binh Trần Duy Đức vẫn lặng lẽ đi tìm những mảnh ghép của quá khứ. Từ hành trình tìm lại hình bóng người cha liệt sĩ, ông dành cả cuộc đời sưu tầm, ghi chép và lưu giữ lịch sử quê hương cùng những câu chuyện về những con người đã làm nên lịch sử.

Miếu thờ liệt sĩ bên suối Hội Phú

Miếu thờ liệt sĩ bên suối Hội Phú

(GLO)- Không biết tên tuổi, quê quán những người lính hy sinh trong trận đánh Tết Mậu Thân 1968 tại Pleiku, người dân bên suối Hội Phú (phường Hội Phú, tỉnh Gia Lai) vẫn âm thầm thắp những nén nhang rồi lập miếu thờ ngay nơi các anh từng nằm xuống. 

Vị Xuyên - Bạn tôi vẫn còn đó

Vị Xuyên - Bạn tôi vẫn còn đó

(GLO)- Vùng biên giới Vị Xuyên, tỉnh Tuyên Quang (Hà Giang cũ) hôm nay đã đổi thay, nhưng những người đồng đội của tôi vẫn còn đó, nằm ngay ngắn trong đội hình “hàng thẳng hàng, lối thẳng lối, quân dung tươi tỉnh” tại Nghĩa trang Liệt sĩ Quốc gia Vị Xuyên.

Chị Djen giới thiệu những chùm răng rẽl vừa thu hái

Theo mùa răng rẽl

(GLO)- Mưa như trút nước xuống những cánh rừng ở xã Ðăk Sơmei sau nhiều tháng nắng khô khốc. Những cung đường rừng trơn như đổ mỡ, loang lổ vệt bánh xe máy trượt ngang. Thỉnh thoảng, giữa nền đường đỏ quạch sót lại vài chùm răng rẽl xanh mướt rơi vãi, dấu vết của những chuyến trở về từ rừng.

Nghị lực phi thường của người thương binh hạng nặng Lê Thái Hà

Nghị lực phi thường của người thương binh hạng nặng Lê Thái Hà

(GLO)- Khi bị thương nặng tại chiến trường Campuchia, ông Lê Thái Hà (trú phường Bình Định, tỉnh Gia Lai) không nghĩ mình sẽ sống sót. Phục viên với sức khỏe suy giảm đến 91%, ông cũng từng không dám mơ đến những điều xa xôi về tương lai. Vậy mà người cựu chiến binh ấy đã can trường vượt qua tất cả.

4 ngày làm vợ, 54 năm đợi chờ

4 ngày làm vợ, 54 năm đợi chờ

Sau 54 năm kể từ ngày liệt sĩ Nguyễn Văn Đinh ngã xuống trên chiến trường Quảng Trị, bà Nguyễn Thị Ngọ (Nghệ An) mới được đứng trên mảnh đất ông hy sinh. Hành trình ấy khép lại nỗi khắc khoải của một người vợ, nhưng mở ra câu chuyện lay động về tình yêu, sự thủy chung không phai theo năm tháng.

'Bí kíp' nón ngựa nghĩa quân Tây Sơn

'Bí kíp' nón ngựa nghĩa quân Tây Sơn

Nghệ nhân ưu tú Đỗ Văn Lan (80 tuổi, ông Ba Lan) đang giữ nguyên vẹn “bí kíp” tổ truyền làm “nón ngựa Phú Gia” mà ngày xưa nghĩa quân Tây Sơn đội nắng mưa hành quân thần tốc. Những chiếc nón không chỉ như một tác phẩm nghệ thuật mà còn rất bền.

null