Lắng dịu sắc chàm

Theo dõi Báo Gia Lai trên Google News
(GLO)- Màu sắc là một phần của văn hóa tộc người. Từ thời xa xưa, các dân tộc sinh sống ở cao nguyên, miền núi nước ta đã biết khai thác những vật liệu có sẵn trong tự nhiên để tạo ra các loại sắc màu sơn quét, trang trí trên các vật dụng, công trình kiến trúc, nhất là nhuộm vải làm màu nền và dệt hoa văn, điểm tô nét đẹp cho bộ trang phục truyền thống. Trong muôn sắc màu, màu chàm là gam màu trầm lắng, làm nên hồn cốt của tộc người.
Nghệ nhân dệt thổ cẩm với đôi tay “nhuốm chàm”. Ảnh: Tấn Vịnh
Nghệ nhân dệt thổ cẩm với đôi tay “nhuốm chàm”. Ảnh: Tấn Vịnh
Màu chàm đen luôn là màu chủ đạo, là màu nền trong trang phục của các dân tộc Tây Nguyên như: Ê Đê, Jrai, Bahnar, Giẻ Triêng, Cơ Tu... và các dân tộc Tây Bắc. Đây là màu trung gian, có vai trò điều tiết sự tương quan, hài hòa màu sắc trên trang phục. Có lẽ do điều kiện khí hậu khắc nghiệt của vùng rừng núi, để hòa mình với môi trường sống, môi trường lao động, con người phải chọn cho mình một loại trang phục chắc bền, tiện dụng, không quá phô trương về hình thức.
Trước đây, đồng bào thường mặc chiếc áo chàm thuần khiết, sau đó điểm xuyết vài đường viền hoặc những hoa văn đơn giản bằng sợi được nhuộm màu tươi sáng hơn. Tuy là gam màu tối nhưng màu chàm vẫn nổi bật trong không gian miền núi, hợp với khung cảnh thiên nhiên nơi những chủ nhân mặc chiếc áo này sinh sống.
Chiếc áo chàm chính là thông điệp tộc người. Chiếc áo chàm là chiếc áo dân dã. Bà con mặc hàng ngày trong lao động, trong các dịp lễ hội cổ truyền dân tộc, sinh hoạt văn hóa tâm linh. Vải chàm mặc rất mát, giặt mau sạch, không bị kích ứng da. Đồng bào miền núi dùng vải nhuộm chàm để may quần áo, làm khăn đội đầu, may túi khoác vai, may chăn, nệm... Trên nền vải chàm đằm thắm này, thợ dệt gửi gắm những đường kim mũi chỉ, cắt may, khâu đắp, tạo thành những hoa văn đẹp mắt.
Trong các loại cây cho màu nhuộm vải thổ cẩm thì cây chàm là quan trọng nhất, đồng bào gọi là cây ta râm. Loại cây này mọc hoang dại trong rừng, có tên khoa học là indigofera tinctoria và indigofera anil. Người ta chặt cây chàm về lấy cả thân lẫn lá đem ngâm với nước suối trong một cái ché lớn đến khi mục rữa. Sau đó, vớt thân cây chàm bỏ ra ngoài rồi dùng khúc cây đánh cho lên màu.
Để thuốc nhuộm màu phát huy tác dụng, cải thiện sắc thái và nước bóng, đồng bào còn tạo ra một số chất phụ gia làm từ vỏ ốc, hạt bắp, củ nâu. Mỗi ngày, người ta nhúng sợi vải vào dung dịch này đến 3 lần và phải qua 3 lần thay nước nhuộm màu mới. Nếu thấy chưa đậm, chưa sắc nước thì trộn vôi bột (được nung từ vỏ ốc suối) vào nước màu rồi lấy cây khuấy đều cho đến khi thuốc nhuộm trở nên đen tuyền mới đưa sợi vải vào nhuộm màu.
Đối với người thợ nhuộm tài ba, một số dạng màu từ đen thẫm, xanh lam sẫm đến màu xám nhẹ, xanh nhạt đều do cách nhuộm mà ra. Màu đen thẫm thì nhuộm 8 lần, còn các màu sẫm thì chỉ cần nhuộm qua vài lần.
Thu hoạch cây ta râm làm thuốc nhuộm màu chàm. Ảnh: Tấn Vịnh
Thu hoạch cây ta râm làm thuốc nhuộm màu chàm. Ảnh: Tấn Vịnh
Đồng bào các dân tộc miền núi gắn với nghề dệt thổ cẩm. Bông vải thu hoạch về, người dân chế biến sợi từ màu trắng nguyên thủy của nó, sau đó mới nhuộm để cho ra các màu sợi khác nhau. Những búp sợi có màu khác nhau là nguyên liệu chính để đưa lên khung dệt, tạo ra những tấm thổ cẩm. Việc chế biến màu chàm và nhuộm vải đòi hỏi sự kiên trì và tỉ mỉ của người phụ nữ.
Có thể nói, cuộc sống muôn màu, văn hóa các tộc người tuy có “đổi màu” nhưng qua thời gian, màu chàm vẫn bất biến. Không riêng vùng văn hóa Tây Nguyên, màu chàm còn là màu in đậm dấu ấn bản sắc tộc người vùng Tây Bắc.
Cây chàm, màu chàm góp một gam màu tô điểm cuộc sống, mang lại sức sống cho buôn làng. Chiếc áo chàm xuất hiện trong lễ hội hát then, trong các nghi lễ thiêng liêng vòng đời người. Cây chàm giúp người dân có nguồn nguyên liệu cơ bản duy trì nghề dệt thổ cẩm, mang lại nguồn thu nhập, cải thiện cuộc sống cho mỗi gia đình.
Nhiều họa sĩ, nhà nhiếp ảnh chuyên đặc tả những bức chân dung của người phụ nữ các dân tộc với nụ cười hồn nhiên ẩn giấu dưới đôi tay thấm đượm màu chàm. Các nhà thiết kế thời trang đình đám của Việt Nam cũng có thiên hướng quay lại với màu chàm để làm nên các bộ sưu tập thời trang thổ cẩm ấn tượng mang đậm bản sắc tộc người Tây Nguyên, Tây Bắc.
TẤN VỊNH

Có thể bạn quan tâm

Chất thuần khiết nâng tầm thổ cẩm

Chất thuần khiết nâng tầm thổ cẩm

(GLO)- Với việc hợp chuẩn OCOP, nhiều sản phẩm thổ cẩm Bahnar, Jrai ở Gia Lai bắt đầu định vị được thương hiệu. Quá trình này có công rất lớn của nhiều phụ nữ, nghệ nhân đã dồn tâm huyết từng bước đưa thổ cẩm truyền thống ra thị trường.

Tiến sĩ Lê Quang Lâm cùng câu chuyện tù và Jrai

Tiến sĩ Lê Quang Lâm cùng câu chuyện tù và Jrai

(GLO)- Hiểu về văn hóa Tây Nguyên bắt đầu từ những hiện vật dân tộc học, đó cũng là một trong những cách tiếp cận của TS. Lê Quang Lâm (phường Diên Hồng, tỉnh Gia Lai) khi nghiên cứu về văn hóa của người Jrai. Trong hàng nghìn hiện vật mà ông dày công sưu tầm, có bộ sưu tập tù và Jrai độc đáo.

Suy nghĩ từ những lò gốm cổ

Suy nghĩ từ những lò gốm cổ dọc sông Côn

(GLO)- Dọc theo dòng sông Côn huyền thoại, tuyến giao thương quan trọng từng nối vùng cao nguyên với cửa biển Thị Nại, nếu không để ý kỹ, người ta rất dễ đi ngang qua những gò đất tưởng như bình thường. Nhưng dưới lớp đất trầm mặc ấy là dấu tích của một thời Champa rực rỡ.

Đi con đường ít người đi…

Đi con đường ít người đi…

(GLO)- Giữa nhịp sống hiện đại gấp gáp, có những người chọn lặng lẽ đi ngược dòng thời gian, lần theo dấu vết chữ nghĩa xưa để phục dựng hồn cốt văn hóa một vùng đất. Tiến sĩ Võ Minh Hải-Phó trưởng Khoa Khoa học Xã hội và Nhân văn (Trường ĐH Quy Nhơn), nhà nghiên cứu Hán Nôm - là một người như thế.

Gìn giữ và phát huy giá trị di sản Hán Nôm

Cần phối hợp liên ngành để gìn giữ và phát huy giá trị di sản Hán Nôm

(GLO)- Từ những sắc phong, gia phả, văn tế, địa bạ đến hoành phi, câu đối…, di sản Hán Nôm đang lưu giữ trên vùng đất Gia Lai là lớp trầm tích đặc biệt của lịch sử và văn hóa. Việc nhận diện giá trị, gìn giữ kho tư liệu này sẽ gợi mở con đường bảo tồn, phát huy giá trị di sản trong đời sống.

null