Gìn giữ nghề mây truyền thống

Theo dõi Báo Gia Lai trên Google News
Từ tầng 2 của ngôi nhà khang trang giữa khu vườn rộng lớn, những tấm mây dài trắng ngà buông xuống đung đưa nhè nhẹ hong nắng đông. Ngoài sân, những cuộn mây đan thành phẩm được xếp thành dãy. Doanh nghiệp tư nhân Dũng Tấn cũng là nhà riêng của anh Phạm Ngọc Tấn (thôn Tây Phú, xã Thượng Hiền, huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình) là nơi hoàn thiện khâu cuối cùng trước khi những cuộn mặt mây này được chuyển tới khách hàng. Có vẻ gì đó rất… điện ảnh.
Cha truyền con nối
“Đan mây không nặng nhọc nên người dân có thể tranh thủ lúc nông nhàn. Mỗi tháng một người cũng đạt thu nhập 3-4 triệu đồng. Người nhanh tay, thạo việc có thể đạt thu nhập 5-6 triệu đồng/người/tháng”, bà Phạm Thị Tính, mẹ anh Phạm Ngọc Tấn, Giám đốc Doanh nghiệp tư nhân Dũng Tấn, vui vẻ tiếp chuyện chúng tôi.
Trung bình mỗi tháng, làng nghề mây tre đan Thượng Hiền tiêu thụ khoảng trên 200 tấn nguyên liệu mây, song. Nguồn mây, song ngoài thu mua trong tỉnh còn được chuyển về từ các tỉnh miền núi phía Bắc, miền Trung và Tây Nguyên. Để bảo đảm nguồn nguyên liệu ổn định cho làng nghề phát triển lâu dài, bền vững, cách đây nhiều năm, doanh nghiệp của anh Tấn (lúc đó do ông Phạm Ngọc Dũng, bố đẻ anh Tấn làm giám đốc) đã tiến hành sản xuất cây mây giống và phối hợp với ngành nông nghiệp các tỉnh miền núi tổ chức cung ứng giống cho bà con trồng, khai thác và bán sản phẩm nguyên liệu cho làng nghề. Hạt mây được ươm gieo từ tháng 4, tháng 7 sẽ nảy mầm. Trong lúc đó, đất và phân được dồn bầu, để hoai rồi chọc lỗ, cấy cây con đã nảy mầm vào, tháng 2 năm sau có thể xuất bán cây giống với giá 15 triệu đồng/10.000 cây giống.
Bà Tính rưng rưng kể, lúc sinh thời, chồng bà, ông Phạm Ngọc Dũng, một thương binh thời chống Mỹ, đã bỏ công sức gây dựng doanh nghiệp Dũng Tấn. Doanh nghiệp của ông từng được tặng huy chương vàng và chứng nhận danh hiệu Hàng Việt Nam chất lượng cao, còn bản thân ông Phạm Ngọc Dũng là cá nhân có thành tích xuất sắc trong phong trào thi đua sản xuất kinh doanh giỏi của tỉnh Thái Bình. Đau đáu truyền nghề cho các con, nhưng trong số 5 người con của ông, chỉ có Phạm Ngọc Tấn, người con trai thứ 4, tốt nghiệp Đại học Quản trị kinh doanh chịu trở về quê nhà kế nghiệp gia đình. Được bố kèm cặp 2 năm, anh Tấn ngày càng vững vàng hơn trong công việc kinh doanh.
Chỉ có điều, nếu đến Thượng Hiền với hy vọng tìm được những sản phẩm mỹ nghệ đẹp và độc đáo, bạn có thể sẽ thất vọng. Bà Tính luyến tiếc kể, những bậc cao niên giỏi nghề, có thể làm được những sản phẩm như vậy hầu như đã quy tiên. “Lớp trẻ bây giờ thích học nhanh, làm nhanh, nhận thù lao “nóng”, nên chỉ tập trung vào đan mặt mây - một công việc có phần đơn giản. Còn lớp người khoảng 70 tuổi, cùng lứa với ông xã tôi thì đã mắt mờ, tay chậm, không làm được những thứ tỉ mẩn nữa”, bà Tính chia sẻ.
Dĩ nhiên, hàm lượng sáng tạo và đòi hỏi kỹ năng thấp hơn, giá trị gia tăng cũng sẽ ít hơn. Bù lại, nỗ lực kết nối với nơi cung cấp nguyên liệu (thông qua việc cung cấp giống mây, hướng dẫn chăm sóc, thu hoạch, sơ chế…) như anh Tấn đang làm đã góp phần tạo ra thêm một “nghề” mới, thêm việc làm và thu nhập cho người dân địa phương.
Nghề xưa sống tốt
Xã Thượng Hiền nằm giữa huyện Kiến Xương (tỉnh Thái Bình), một huyện có nhiều làng nghề nổi tiếng được cả nước biết đến như làng nghề chạm bạc Đồng Xâm (trên 600 năm tuổi); làng nghề mắm cáy, mắm rươi Hồng Tiến; dệt đũi Nam Cao; dệt thảm len Vũ Trung; chế biến cói ở Hòa Bình, Quang Lịch; làm móc lưỡi câu ở Tây Sơn, Nam Bình... Tuy nhiên, theo ông Nguyễn Mạnh Hùng, cán bộ Phòng Kinh tế - Hạ tầng huyện Kiến Xương, qua khảo sát, đánh giá các làng nghề, hiện nay toàn huyện chỉ còn 22 làng nghề còn giữ vững các tiêu chí; 15 làng nghề khác đang mai một hoặc không còn là nghề chính. Đáng mừng là làng nghề mây tre đan Thượng Hiền nằm trong số làng nghề đang phát triển, giải quyết việc làm và thu nhập ổn định cho nhiều lao động địa phương.
Theo các bậc cao niên trong xã, nghề đan mây đã có ở Thượng Hiền khoảng hơn 200 năm. Làng đang có hơn 1.200 hộ sản xuất với 2.400 lao động, chiếm khoảng 72% số lao động của địa phương. Ngoài sự nỗ lực, năng động của bản thân mỗi doanh nghiệp, người dân làm nghề, một trong những lý do khiến làng nghề Thượng Hiền vẫn phát triển tốt, là nhờ nguồn kinh phí khuyến công, khuyến thương của tỉnh và huyện đã được xã Thượng Hiền sử dụng khá hiệu quả để tổ chức truyền nghề cho lao động. Các doanh nghiệp, hộ sản xuất cũng được tạo điều kiện tối đa để vay vốn ưu đãi mở rộng quy mô, nhà xưởng, nâng cao năng lực sản xuất, đầu tư máy móc, ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, cũng như tham gia các hội chợ, chương trình xúc tiến thương mại nhằm quảng bá sản phẩm, thương hiệu tới người tiêu dùng, các đối tác trong và ngoài nước.
Một vài năm trở lại đây, giá trị sản xuất từ làng nghề Thượng Hiền hàng năm đạt khoảng 80 tỷ đồng. Từ đầu năm 2020 đến nay, do ảnh hưởng của dịch Covid-19, việc tiêu thụ sản phẩm có phần khó khăn hơn những năm trước, song mỗi tháng làng nghề cũng xuất ra thị trường hàng chục ngàn mét vuông sản phẩm tấm mây đan.
ANH THƯ (SGGPO)

Có thể bạn quan tâm

Chiếc a chói giữa rừng Trường Sơn

Chiếc a chói giữa rừng Trường Sơn

Dưới mái hiên nhà sàn ở xã La Lay (Quảng Trị), tiếng dao chẻ tre vang lên đều đặn giữa buổi sớm. Nghệ nhân Hồ Văn Thành ngồi bên bó mây vừa lấy từ rừng về. Ông tỉ mẩn đường dao chuốt từng sợi nan tre. Ở miền tây Quảng Trị, hình ảnh ấy không hiếm gặp...

Nghị lực phi thường của người thương binh hạng nặng Lê Thái Hà

Nghị lực phi thường của người thương binh hạng nặng Lê Thái Hà

(GLO)- Khi bị thương nặng tại chiến trường Campuchia, ông Lê Thái Hà (trú phường Bình Định, tỉnh Gia Lai) không nghĩ mình sẽ sống sót. Phục viên với sức khỏe suy giảm đến 91%, ông cũng từng không dám mơ đến những điều xa xôi về tương lai. Vậy mà người cựu chiến binh ấy đã can trường vượt qua tất cả.

4 ngày làm vợ, 54 năm đợi chờ

4 ngày làm vợ, 54 năm đợi chờ

Sau 54 năm kể từ ngày liệt sĩ Nguyễn Văn Đinh ngã xuống trên chiến trường Quảng Trị, bà Nguyễn Thị Ngọ (Nghệ An) mới được đứng trên mảnh đất ông hy sinh. Hành trình ấy khép lại nỗi khắc khoải của một người vợ, nhưng mở ra câu chuyện lay động về tình yêu, sự thủy chung không phai theo năm tháng.

'Bí kíp' nón ngựa nghĩa quân Tây Sơn

'Bí kíp' nón ngựa nghĩa quân Tây Sơn

Nghệ nhân ưu tú Đỗ Văn Lan (80 tuổi, ông Ba Lan) đang giữ nguyên vẹn “bí kíp” tổ truyền làm “nón ngựa Phú Gia” mà ngày xưa nghĩa quân Tây Sơn đội nắng mưa hành quân thần tốc. Những chiếc nón không chỉ như một tác phẩm nghệ thuật mà còn rất bền.

Tiếng vọng trong những phiến đá rêu phong

Tiếng vọng trong những phiến đá rêu phong

(GLO)- Ẩn mình dưới tán rừng già trên dãy núi Bích Kê, lũy đá cổ Phú Hà (thôn Hòa Tân, xã Phù Mỹ Bắc) lặng lẽ tồn tại như một chứng nhân của thời gian. Những bức tường đá phủ rêu bền bỉ trước mưa nắng dường như đang gìn giữ câu chuyện về một vùng đất từng giữ vị trí trọng yếu trong lịch sử.

Chợ ở Quy Nhơn xưa

Chợ ở Quy Nhơn xưa

Với vùng đất Quy Nhơn xưa (nay thuộc tỉnh Gia Lai), tìm hiểu những ngôi chợ cũ cũng là lần giở lại ký ức về quá trình hình thành và phát triển của một đô thị thương cảng, đặc biệt trên phương diện giao thương.

Lính công binh hồi sinh những vùng đất chết

Lính công binh hồi sinh những vùng đất chết

(GLO)- Giữa những cánh rừng và triền núi của phường Bồng Sơn và xã An Toàn, nơi chiến tranh từng đi qua và để lại vô số vết thương, cán bộ, chiến sĩ Lữ đoàn Công binh 7 (Quân đoàn 34) đang lặng lẽ thực hiện nhiệm vụ rà phá bom mìn, trả lại sự an toàn cho đất đai và cuộc sống bình yên cho người dân.

Từ Tiên Nữ đến Núi Le C: Khát vọng xanh giữa trùng khơi

Từ Tiên Nữ đến Núi Le C: Khát vọng xanh giữa trùng khơi

(GLO)- Giữa biển trời Tổ quốc, cán bộ, chiến sĩ đảo Tiên Nữ và Núi Le C vẫn kiên cường bám biển, giữ đảo. Vượt qua nắng gió khắc nghiệt và thiếu thốn nơi đầu sóng, những người lính đảo đang lặng thầm vun đắp màu xanh sự sống, giữ vững chủ quyền thiêng liêng của biển đảo quê hương.

“Đường về” của Siu Un

“Đường về” của Siu Un

(GLO)- Sau những sai lầm trong quá khứ, ông vượt qua mặc cảm, thay đổi nhận thức, trở thành người tích cực tuyên truyền pháp luật, vận động bà con sinh hoạt tôn giáo đúng quy định, góp phần giữ gìn bình yên buôn làng.

Những phận đời bới rác mưu sinh

Những phận đời bới rác mưu sinh

(GLO)- Mỗi buổi sáng, khi phố Núi còn bảng lảng sương sớm, những chuyến xe chở rác lại nối đuôi vào khu tập kết rác xã Gào. Giữa mùi hôi nồng và đàn ruồi dày đặc, những người phụ nữ lặng lẽ cúi mình trên nền đất nhớp nháp, cần mẫn bới tìm chai nhựa, lon bia, giấy vụn…

null