Gia Lai: Cà phê chồn hiện có ở Kbang

Theo dõi Báo Gia Lai trên Google News
Cà phê chồn là tên một loại cà phê đặc biệt, được xếp vào loại hiếm trên thế giới. Loại cà phê này được phát hiện cách đây hàng trăm năm ở Indonesia.
 
Hiện nay, Indonesia là quốc gia chuyên sản xuất cà phê chồn Kopi Luwak. Tuy nhiên, loại cà phê này khá hiếm, người ta chỉ thu được khoảng 224 kg trong một năm. Một tách cà phê loại này có giá 10 USD. 
 
Năm 2007, Công ty Cà phê Trung Nguyên (Đak Lak) thông báo cần mua cà phê chồn thứ thiệt, giá từ 1 triệu đồng đến 10 triệu đồng mỗi kg. Sau vài năm, Trung Nguyên đã thu mua được  nguyên liệu chất lượng cao. Trong lễ hội cà phê Buôn Ma Thuột lần thứ 2, doanh nghiệp này thu hút sự chú ý của đông đảo công chúng bằng cách giới thiệu cà phê chồn tinh chất.
Chồn Hương trong vườn cà phê. Ảnh: H.T
Chồn Hương trong vườn cà phê. Ảnh: H.T
Hai năm gần đây, tại thị trấn Kbang (huyện Kbang, Gia Lai), ông Nguyễn Văn Thường sản xuất thí điểm cà phê chồn. Hiện nay, hộ ông Thường bán cà phê chồn với giá 500.000 đồng/kg hạt. Anh Dương Văn Thọ- Trạm trưởng Trạm Khuyến nông huyện cho biết: Với điều kiện đất đai và thời tiết ở Kbang, cà phê không thể cạnh tranh với những nơi khác, nhưng bù lại cho quả chín quanh năm nên rất thích hợp cho việc nuôi chồn để thu sản phẩm cà phê chồn, nâng cao giá trị sản phẩm. 
 
Giá chồn giống khoảng 1,5 triệu đồng/kg. Yêu cầu về chuồng trại không khắt khe, với diện tích 0,5 m2, cao 0,4 mét là có thể nuôi được 1 cặp chồn. Thức ăn cho chồn ngoài cà phê còn bổ sung thêm ngũ cốc hoặc cá nấu chín. Công việc khó nhất là làm sao huấn luyện cho chồn làm quen với người. Cà phê cho chồn ăn vào ban đêm, sau khoảng 1 tiếng đồng hồ hạt cà phê  theo phân ra ngoài từng lọn dài kết dính toàn hạt cà phê, gia chủ chỉ việc thu lượm, đem rửa, phơi khô rồi bán. Một tháng có thể cho chồn ăn cà phê liên tục 20 ngày và 1 cặp chồn cho 1-2 kg cà phê/tháng, giá 500.000 đồng/kg. Một cặp chồn có thể tạo ra giá trị 6-12 triệu đồng/năm.
Để khuyến khích nông dân phát triển nghề mới này, ngành chức năng huyện Kbang tạo điều kiện cho người chăn nuôi làm thủ tục cấp nuôi động vật hoang dã dễ dàng và thuận lợi. Hy vọng với giá cả hấp dẫn, không chỉ ở huyện Kbang mà còn nhiều hộ gia đình nuôi chồn hương để lấy sản phẩm cà phê chồn chất lượng để nhiều người được thưởng thức sản phẩm độc đáo này.
Hương Trà

Có thể bạn quan tâm

Mở thêm dư địa từ thủy điện hiện hữu

Mở thêm dư địa từ thủy điện hiện hữu

(GLO)- Gia Lai đang mở thêm dư địa phát triển nguồn điện từ các công trình thủy điện hiện hữu, với nhiều dự án được đầu tư mở rộng. Không chỉ bổ sung công suất, sản lượng điện, hướng đi này còn khai thác hiệu quả hơn hệ thống công trình đã đầu tư, nguồn nước và hạ tầng đấu nối.

Nâng cao giá trị ngành hàng chanh dây

Gia Lai đầu tư nâng cao giá trị ngành hàng chanh dây

(GLO)- Gia Lai có khoảng 5.500 ha chanh dây, sản lượng khoảng 210 nghìn tấn/năm. Từ quả chanh dây tươi, nhiều doanh nghiệp, hợp tác xã đã tạo ra nhiều sản phẩm như dịch cấp đông, nước ép cô đặc, tinh cốt..., qua đó mở rộng đầu ra, nâng giá trị và giảm áp lực tiêu thụ trong mùa thu hoạch.

Hội Doanh nhân trẻ tỉnh Gia Lai: Mở rộng kết nối, nâng tầm hội nhập

Hội Doanh nhân trẻ tỉnh Gia Lai: Mở rộng kết nối, nâng tầm hội nhập

(GLO)- Sau hợp nhất, Hội Doanh nhân trẻ tỉnh Gia Lai mở rộng mạng lưới doanh nghiệp, đẩy mạnh xúc tiến thương mại, hỗ trợ tháo gỡ khó khăn và tiếp cận nguồn lực. Từ nền tảng đó, Hội đang chuyển sang cách làm thực chất hơn, hướng hoạt động vào nhu cầu và kết quả cụ thể của doanh nghiệp.

Việt Nam lần đầu đạt mức xếp hạng đầu tư: Cơ hội hút vốn dài hạn

Việt Nam lần đầu đạt mức xếp hạng đầu tư: Cơ hội hút vốn dài hạn

(GLO)- Tổ chức Rating and Investment Information (R&I) nâng xếp hạng tín nhiệm nhà phát hành bằng ngoại tệ của Việt Nam từ BB+ lên BBB-, đưa Việt Nam lần đầu vào nhóm xếp hạng Đầu tư (Investment Grade), thêm dư địa huy động nguồn vốn dài hạn với chi phí và rủi ro tín dụng thuận lợi hơn.

2,5 triệu ha rừng keo và nghịch lý bán nguyên liệu giá rẻ

2,5 triệu ha rừng keo và nghịch lý bán nguyên liệu giá rẻ

(GLO)- Việt Nam hiện có khoảng 2,5 triệu ha rừng keo, chiếm phần lớn diện tích rừng keo của thế giới. Thế nhưng khoảng 80% sản lượng gỗ keo vẫn được đưa vào sản xuất dăm gỗ và viên nén, đặt ra bài toán chuyển từ bán nguyên liệu giá trị thấp sang chế biến sâu, tạo giá trị cao hơn.

null