Gặp lại tài xế "xe không kính"

Theo dõi Báo Gia Lai trên Google News

(GLO)- Đã có một thời, người lái xe cũng là chiến sĩ, đối diện với cái chết từng giờ. Hơn 10 năm lái xe qua mưa bom bão đạn trên những cung đường cực kỳ ác liệt nhưng mọi chuyến xe ông lái đều về đích an toàn. Người có “số phận” kỳ lạ này là ông Nguyễn Văn Hiến.

Từ ngày có tuyến đường tránh, quán cà phê ven thôn Tân Lập (xã Ia Sao, huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai) bỗng trở nên đông đúc. Lần nào ghé qua, tôi cũng thấy một ông già cao lêu nghêu ngồi trong góc khuất lặng lẽ nhấm nháp cà phê một mình. Cái dáng hiền từ này tôi như đã gặp ở đâu. Vậy là, trong một lần ngồi cạnh, tôi lên tiếng làm quen. Hóa ra, ông vào chơi với con, nhà ở cùng xóm rẫy với tôi đã hơn năm nay, còn quê gốc thì ở thị xã Ba Đồn, tỉnh Quảng Bình.

Nghe ông nói, mình đã qua tuổi 80 nhưng dáng đi vẫn còn rất thẳng, trí nhớ minh mẫn, tôi buột miệng: “Giá ngày ấy bác đi tuyển phi công”. Ông cười: “Tôi sức khỏe không đủ nhưng được đứng vào đội ngũ lái xe ngày ấy, tiêu chuẩn chính trị có lẽ cũng chẳng kém gì phi công: 5 năm lao động tiên tiến, 3 năm chiến sĩ thi đua. Để giành được những danh hiệu ấy, tôi đã phải trằn mình cùng đồng đội mở con đường 15 chạy dọc Trường Sơn suốt 6 năm trời. Tất nhiên, đó mới chỉ là tiêu chuẩn bước đầu. Để được cầm vô lăng phải trải qua 12 tháng đào luyện khắt khe cả về đạo đức lẫn tay nghề. Thế nên khóa ấy tốt nghiệp, cả tỉnh Quảng Bình chỉ có mỗi mình tôi”.

 Những giây phút thảnh thơi giữa đời thường của ông Nguyễn Văn Hiến. Ảnh: Ngọc Tấn
Những giây phút thảnh thơi giữa đời thường của ông Nguyễn Văn Hiến. Ảnh: Ngọc Tấn


Nghe ông kể, tôi như được cộng hưởng hơi thở của một thế hệ chỉ biết phụng hiến hết mình cho lý tưởng. Năm 1964, sau khi tốt nghiệp, ông Nguyễn Văn Hiến được điều về 050-đơn vị làm nhiệm vụ chi viện cho chiến trường Lào và miền Nam. Riêng đội xe có 20 chiếc với 40 lái và phụ xe do ông Nguyễn Văn Khinh chỉ đạo.

Ông Hiến hồi nhớ: “45 năm qua rồi, tôi vẫn phảng phất cái cảm giác lạnh sau gáy mỗi khi nhớ về những khúc cua ác nghiệt trên con đường 12A. Đây là con đường vốn do người Pháp làm. Có những đoạn thùng xe cọ cả vào vách đá. Để tránh nhau phải cho xe vào trạm, có người xi nhan trước kiểu như tàu hỏa vào ga. Thế nên những chiếc GAT63 lẽ ra trọng tải 2 tấn nhưng ai cũng chỉ dám chở đến 1,5 tấn. Những năm 1965 trở đi, địch ném bom vô cùng ác liệt. Mỗi chuyến hàng từ Cảng Hải Phòng vào, xe ông phải qua đủ các tọa độ lửa giờ đã đi vào sử sách: cầu Hàm Rồng, dốc Bò Lăn, Đồng Lộc, Khe Giao, Địa Lợi, cầu Cà Tang, Khe Ve, La Trọng, bãi Dinh… Cả chặng đường dằng dặc đạn bom đó, chỉ có khoảng 50 km đường kín cho xe chạy ban ngày, còn tất cả phải chạy đêm”.

Đường 12A ác liệt là vậy nhưng cũng còn phải “nhường” cho đường 20. Đường 20 dài hơn 120 km, nối Phong Nha (Quảng Bình) với Lùm Pùm (tỉnh Khăm Muộn, Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào). Đường 20 có 8 trọng điểm ác liệt đã đi vào lịch sử, nhưng nổi tiếng hơn cả vẫn là cua chữ A. Đó là một đoạn đường luồn giữa 2 quả núi “mẹ” và “con” tạo thành 4 đoạn gấp khúc rất ngặt nối tiếp nhau chạy men theo sườn núi, cạnh một vực sâu thăm thẳm. Sau chiến tranh một thống kê cho thấy: Chỉ riêng B-52 đã có 270 lần trút bom xuống tọa độ này. Thế nhưng, từng qua cung đường này không dưới chục lần, ông Hiến vẫn đưa hàng về đích an toàn…

Ông kể: Một lần bị máy bay địch ném bom trúng đội hình. Đằng trước, đằng sau đều có xe cháy. Trong tình thế như vậy, nếu chấn chừ cả đoàn xe sẽ làm mồi cho địch. Vậy là, mặc cho tiếng bom bi đang nổ dậy đất, ông vọt lên buồng lái nổ máy lách xe lên. Để nhanh chóng thoát khỏi nguy hiểm và đánh lạc hướng địch, ông bật luôn đèn pha, phóng hết tốc độ. Thấy vậy, lũ máy bay địch bỏ mục tiêu phía sau châu vào vãi bom. Nghe tiếng nổ dậy đất, mảnh găm chan chát vào thành xe, một ý nghĩ thoáng qua đầu ông: “Phen này chắc chết”. Vậy mà không! Chạy thêm một quãng nữa, ông tắt đèn. Bị mất “mồi”, bọn địch lồng lộn quay lại thì những chiếc xe sau đã kịp tản ra. Nếu hôm ấy ông sợ chết, cứ ngồi yên dưới hầm thì chắc xe đã dính bom…

Bản lĩnh và phẩm chất của tay lái Nguyễn Văn Hiến đã được Ty Giao thông tỉnh Quảng Bình chú ý. Tháng 7-1967, ông được rút khỏi 050 để làm nhiệm vụ chở một thứ “hàng” vô giá: K8, K10… Bấy giờ, trước tình thế chiến tranh ngày càng ác liệt, Nhà nước chủ trương sơ tán một số đối tượng ra các tỉnh miền Bắc. Khu vực Vĩnh Linh là toàn bộ người già và trẻ em gọi là K10. Quảng Bình là con em thương binh, liệt sĩ, cán bộ, công nhân, viên chức, trẻ em mồ côi… gọi là K8. Để những “chuyến hàng đặc biệt” này đến nơi đảm bảo an toàn tuyệt đối, tiêu chuẩn phải là những tay lái kỳ cựu đã được thử thách. Ông Hiến kể: “Lúc được rút khỏi những “tọa độ lửa”, theo logic thông thường thì lẽ ra nên mừng, vậy mà tôi chỉ thấy lo”.

3 năm cân não với máy bay Mỹ trên những cung đường máu lửa, ông đã kịp rút ra những nhận định khá chính xác về quy luật hành động của chúng. Bằng kinh nghiệm và sự vững vàng của một tay lái Trường Sơn già dặn, suốt 1 năm làm nhiệm vụ chở loại “hàng đặc biệt”, không một chuyến xe nào của ông bị dính bom địch. Hàng trăm “hạt giống đỏ” được tay lái của ông đưa tới nơi an toàn...  Nguyễn Văn Hiến không ngờ điều này lại thêm cho ông một “chứng chỉ”. Tháng 9-1968, Ty Giao thông rút ông về để giao một nhiệm vụ đặc biệt hơn: chở các vị lãnh đạo tỉnh và Trung ương vào công tác Quảng Bình.

7 năm này có thể nói là quãng thời gian mà sự vất vả, căng thẳng còn gấp mấy lần lái xe tải. Bấy giờ, xe phục vụ lãnh đạo cũng chỉ đến loại GAT69 của Liên Xô. Phải lo sao cho mỗi chuyến đi được tuyệt đối an toàn, đặc biệt là những chuyến chở các cán bộ lãnh đạo tới những trọng điểm ác liệt để điều nghiên tình hình. Bất chấp ngày đêm, có máy bay đánh phá hay không, hễ có việc khẩn là đi…

Cho đến bây giờ, ông Hiến vẫn lưu giữ một cách trân trọng những phần thưởng của quãng đời 34 năm cầm vô lăng gian khổ: chiếc ca uống nước tráng men, chiếc xe đạp Thống Nhất. Những kỷ vật đó chỉ những ai sống cùng thời mới hiểu giá trị và ý nghĩa của chúng… Năm 1998, ông nghỉ hưu sau gần 40 năm gắn bó với ngành Giao thông-Vận tải, lương 4 triệu đồng.

Cùng là “dân xế” nhưng chẳng thiếu người nhà cao cửa rộng, thậm chí là giàu thì ông đến khi về hưu mới xây được căn nhà cấp 4. Ông cười vô tư khi nghe tôi tỏ ra ái ngại về sự thiệt thòi: “Mình được yên lành trở về trong khi bao nhiêu người đã nằm lại vĩnh viễn trên mỗi cung đường thì ai tính cho họ công bằng. Huống chi như các cụ ta đã nói “Công bằng viễn lộ hà xứ thị”?
 

NGỌC TẤN

Có thể bạn quan tâm

Ấm áp những ngôi nhà tái định cư

Ấm áp những ngôi nhà tái định cư

(GLO)- Về thăm những khu tái định cư vùng thiên tai trên địa bàn tỉnh Gia Lai, chúng tôi cảm nhận được mùa xuân ấm áp đang về cùng với sắc hoa tươi thắm, khung cảnh sản xuất, sinh hoạt nhộn nhịp đang định hình trên vùng đất mới.

Ngôi làng Bahnar bị "bỏ quên" giữa núi rừng.

Ngôi làng Bahnar bị "bỏ quên" giữa núi rừng

(GLO)- Một ngôi làng Bahnar không người ở, bị "bỏ quên" giữa núi rừng Tây Nguyên nhưng vẫn hấp dẫn nhiều du khách ghé thăm nhờ vẻ đẹp nguyên sơ của thiên nhiên và kiến trúc nhà truyền thống. Đó là làng Kon Sơ Lăl cũ (xã Ia Khươl, tỉnh Gia Lai).

Giấc mơ về một khu vườn sáng

Giấc mơ về một khu vườn sáng

Vân Anh năm nay 40 tuổi, sống cách Hoàn Kiếm của Hà Nội chỉ hơn chục cây số. Chị từng là giám đốc điều hành của một công ty có hàng trăm nhân viên, quen với áp lực, nhịp sống gấp gáp và những quyết định lớn nhỏ mỗi ngày.

Rẫy chung ở Đak Đoa

Rẫy chung ở Đak Đoa

(GLO)- Giữa những đồi cà phê vào độ chín rộ ở xã Đak Đoa, có những khu rẫy không thuộc về riêng một hộ nào. Đó là rẫy chung - mảnh đất “không chia phần” của cộng đồng, nơi bà con cùng góp công vun trồng, chăm sóc qua từng mùa, lặng lẽ tích lũy thành nguồn lực chung để lo việc thôn, việc làng.

Xuân về làng gốm 500 năm tuổi

Xuân về làng gốm 500 năm tuổi

Từng đoàn khách dập dìu men theo con đường nhỏ dẫn vào làng gốm Thanh Hà (phường Hội An Tây, TP. Đà Nẵng). Ngôi làng nhỏ gần 500 năm tuổi bên dòng Thu Bồn, nơi các thế hệ truyền nhau gìn giữ làng nghề nổi danh xứ Quảng.

Dựng cơ đồ bạc tỷ trên cát trắng

Dựng cơ đồ bạc tỷ trên cát trắng

(GLO)- Trên vùng đất cát trắng bạc màu, “khỉ ho cò gáy”, nông dân Nguyễn Xuân Ánh (SN 1972, thôn Thuận Phong, xã Hội Sơn) đã bền bỉ dựng nên một trang trại tổng hợp gần 10 ha, bình quân lợi nhuận 500 - 700 triệu đồng/năm.

Bình yên sau những ngày lạc lối

Trở về con đường sáng sau những ngày lạc lối

(GLO)- Thời gian qua, lực lượng Công an tỉnh Gia Lai đã kiên trì bám cơ sở, cùng cấp ủy, chính quyền địa phương, người có uy tín cảm hóa, thức tỉnh những đối tượng từng nghe theo tổ chức phản động FULRO. Nhờ đó, nhiều người đã từ bỏ những việc làm sai trái, quay về với con đường sáng và vòng tay yêu thương của buôn làng.

Tết này, người dân vùng bão lũ có nhà mới

Tết này, người dân vùng bão lũ có nhà mới

(GLO)- Càng gần đến Tết Nguyên đán, những căn nhà mới của người dân vùng bão lũ càng hiện rõ hình hài. Khi những mái ấm được dựng lên từ mồ hôi, công sức của bộ đội và sự chung tay của cộng đồng, mùa xuân cũng kịp về sớm hơn với những gia đình lam lũ từng chịu nhiều mất mát do thiên tai.

Bo bo vào mùa đẫy hạt

Bo bo vào mùa đẫy hạt

(GLO)- Cuối năm, trên những nương rẫy vùng cao xã Krong (tỉnh Gia Lai), bo bo (còn có tên gọi khác là cao lương, lúa miến, mộc mạch) bước vào thời điểm chín rộ, hạt căng tròn, báo hiệu mùa thu hoạch đã đến.

Ký ức lúa nương thiêng

Ký ức lúa nương thiêng

(GLO)- Trên những triền núi ở xã Vân Canh (tỉnh Gia Lai), đồng bào người Chăm H’roi và Bahnar vẫn gieo trồng lúa nương. Với họ, đây không chỉ là vụ mùa mà quan trọng hơn là cách gìn giữ ký ức của cha ông, hương vị thiêng quý của núi rừng.

Tìm lại mình từ bóng tối

Tìm lại mình từ bóng tối

Những cơn “phê” chớp nhoáng, những phút ngông cuồng tuổi trẻ, nông nổi đã đẩy nhiều thanh niên ở Quảng Ngãi lao vào vòng xoáy ma túy. Khi tỉnh lại, trước mắt họ chỉ còn là gia đình tan tác, sức khỏe tàn phá và tương lai bị bóng tối nghiện ngập nuốt chửng.

Vào rốn lũ cứu người

Vào rốn lũ cứu người

Giữa lúc thiên nhiên thử thách, họ đã chọn hành động; giữa hiểm nguy, họ chọn dấn thân và giữa bao nỗi lo, họ mang đến hy vọng. Những chàng trai từ Đà Lạt, Phan Thiết đã vượt hàng trăm kilomet giữa mưa lũ, sạt lở để đến với người dân vùng lũ Khánh Hòa, Phú Yên (cũ).

null