Truyện ngắn của LÂM KHOA
Nó về quê sau mười mấy năm biệt tăm biệt dạng, mười mấy năm dài đằng đẵng mà nó ngỡ như mới ngày hôm qua đây thôi. Người ta có thể chối bỏ với kẻ khác về nơi chốn chôn nhau cắt rún, nhưng với chính mình thì không. Quên được. Xóa được. Vùi được. Chẳng qua giọng điệu, đầu môi chót lưỡi của đám nhiều chữ lắm nghĩa, tráo trở hoạt đầu. Quê kiểng mà, ngay cả khi gợi lên rất nhiều cay đắng, đớn đau vẫn không thể quên. Bộ muốn là quên sao. Có người chết không nhắm mắt được. Mãi đến khi đưa về đến quê nhà mới xuôi tay, khép mắt đấy thôi.
***
Tới đầu Xóm Đậu thằng Thiên đứng sững lại, ngó trân trân vô cây bông gòn, bao nhiêu chuyện cũ ùn ùn ùa về. Thì bởi, ngày nó khóc rưng rức bịn rịn chia tay đám con nít mũi dãi thò lò ngay dưới gốc cây bông gòn đứng lừng lững sát mé đám rau ngổ kia chớ đâu. Bữa đó cảnh vật mới buồn ác chiến. Nó nhớ trong giây phút chia ly đấy, như để phụ họa thêm chút lâm li cho khung cảnh tiễn biệt, khói nắng ban chiều trôi lững thững chậm rãi, khoan thai trên ngọn tre ngó xuống miên man, cả đám cỏ gai cũng mê man nằm xếp lớp ngả nghiêng dưới những đôi chân trần đưa tiễn. Thằng Tám Cò quẹt mũi sụt sịt, mày vô trỏng nhớ viết thơ gởi về cho tụi tao với nghen, con cu đất của mày nhứt định tao sẽ nuôi nó cẩn thận. Thằng Châu Chân Gỗ hỉ mũi cái rột, tuốt nắm lá bông bay quẹt ngang, nó ngần ngừ móc cái ná cao su dúi vô túi thằng Thiên, cái ná này tao đẽo hết hai buổi trưa mới xong á, mày cầm nó theo vô trỏng gặp đứa nào cà khịa mày bắn u đầu nó cho tao... Con Lành chỉ biết đứng tẽn tò đỏ mặt suốt buổi mà chưa biết nói câu nào, nó cúi gằm mặt, di di ngón chân xuống đất vẽ mấy cái hình bâng quơ. Miết tới hồi thằng Thiên chụp vai nó lắc lư, Lành... Lành... ở nhà mạnh giỏi nghen… Tui, tui đi đây, nó mới chịu ngước mặt lên, hai khóe mắt con nhỏ đã nhoe nhoét nước mắt. Như chỉ chờ đến đó, con Lành òa khóc nức nở...
Đó lòng dạ tăm tối, đầu óc đất cục mới quên. Đúng không! Nhớ người là nhớ đất. Mà đó là nhớ quê chớ còn gì nữa.
Thằng Thiên là đứa lầm lầm lì lì cả ngày như con bò u. Từ lúc mới lẫm đẫm biết đi đến lúc đủ sức tha cái cặp tới trường, cả xóm nó chỉ chơi thân đúng với ba đứa, thằng Tám Cò, thằng Châu Chân Gỗ với con Lành. Nó đã lầm lì, lại gan bẩm, không biết giỡn nên đứa nào cũng ơn ớn. Đận đó, thằng Mùi ăn gian mấy lần lúc chơi bắn bi, nó đứng dậy phủi đít, ậm ừ trong họng bỏ về. Không nói phải trái hơn thua, cứ dẫy phủi đít đi. Cả đám biết tính, ngãng ra cho nó về. Thằng Mùi tẽn tò, ỷ bự con hất hàm, hẩy hẩy cái mặt thách thức:
- Tao ăn gian đó. Rồi sao? Mày ngon á? Ngon lấy gạch đập vô đầu tao nè! Đập thử coi thì biết, thằng không cha kia…
Thằng Mùi còn đang vênh váo xoay mặt thách thức cả đám còn lại, thì thằng Thiên táng luôn cục gạch thẻ dô mặt cái một. Gọn gàng. Dứt khoát. Không nói một tiếng. Đầu thằng Mùi tóe máu, nó liểng xiểng rồi ngã gục xuống bất tỉnh. Đám con nít thất kinh, hồn xiêu phách lạc…
Chiều nằm úp mông lên phản ăn roi cày của má, nó không hé môi lấy một câu. Cô Bốn la lạc cả giọng, đòi sống đòi chết, trời ơi, tao nuôi mày bi lớn để mày thành côn đồ, đánh con người ta tét đầu thế hử con, bữa nay tao giết mày. Nó cũng chỉ ậm ự trong họng, nghiến răng không nói lại một tiếng. Miết đến khi cô Bốn tủi thân khóc òa lên, nó mới ngẩng đầu qua một bên, nhát gừng trình bày: Ai biểu nó nói con là thằng không cha.
Cô Bốn sững người, im bặt, bàng hoàng tê tái, bụm mặt liêu xiêu, loạng choạng bíu tay vô thành cửa rồi ngồi cái phịch xuống xó nhà, cố nuốt cái ê chề đang trào lên họng. Cô chỉ muốn ra cầu Tá đâm đầu xuống mương chết quách cho xong...
Thằng Thiên từ từ ngồi dậy, kéo áo thẳng thớm, bước tới ôm lấy má nó, giọng ráo hoảnh:
- Nó còn nói như dẫy nữa thì con còn đánh nữa! Đững có nói con sang bển xin lỗi! Sao nẫu không nói thằng Mùi qua xin lỗi má đi….
Ba má thằng Mùi đang đứng ngoài ngõ muốn vào mắng vốn liền chợn chưn, kéo nhau về. Không phải vì lý sự của nó mà vì cái giọng. Ba thằng Mùi, mấy hôm sau thì thào kể ngoài quán nhậu, thằng con bà Bốn nó nói cái giọng của đứa chết rồi. Đụng dô má nó, nó giết…
Năm đó thằng nhỏ mới mười mấy tuổi chớ mấy.
***
Nhà có ba chị em, chị là em út. Hai người chị ăn học thành đạt cưới chồng rồi ở hẳn luôn trong Sài Gòn. Nhà chỉ còn hai người già rệu rạo, cả ông lẫn bà cộng lại hai người không còn được chục cái răng, với cô út đẻ mót. Buổi sáng chị đi học, hai người già mắt mũi kèm nhèm ở nhà thổi lửa nấu cơm. Lửa táp cháy rụi cả chái bếp. Thì bà Tám trông gà hóa cuốc cứ nhầm chai dầu lửa thành chai nước mắm đem ra chắt vô nồi canh, trã cá mà nêm nếm... Cháy chái bếp là may chớ! Trưa chị học về dọn mâm cơm ra mà nước mắt cứ ầng ậng chảy. Thương ba, thương má, học xong lớp Chín thì chị nghỉ. Bữa đó ông Tám vác cây gậy rượt chị, mặt ông đỏ phừng phừng. Nhưng chị nghỉ là nghỉ. Chị ở nhà cần mẫn quanh quẩn với chòm rau muống, lặng lẽ làm những công việc bếp núc, đồng áng để tiện trông nom, tiện chăm sóc cha mẹ già.
![]() |
| Tranh của họa sĩ TRƯƠNG ĐÌNH DUNG |
Nắng tháng Ba vàng ươm, giòn rụm đang bám víu trên ngọn bạch đàn xơ xác. Cả cánh đồng Kiên Mỹ cỏ đã cháy khô, đám bò nghé ốm o đang nằm gác mép thở hùng hục muốn tóe lửa ra đằng mũi. Cánh thợ vét mương đã dập dìu kéo đến Xóm Đậu ngày một đông. Ban ngày, họ hì hục nạo bùn, vét cát để thông dòng cho con mương kịp mang dòng nước mát cho vụ Hè Thu. Tối đến họ vào xóm tìm nhà ngủ nhờ qua đêm. Nhà ông Tám cũng có ba người đến trải chiếu xin ngủ nhờ ngoài đầu hè. Chạng vạng chiều, cơm nước xong, ông Tám hay hắng giọng sai con Bốn đâu mầy nướng con mực, mua tao xị rượu tao lai rai với mấy chú coi, chị Bốn dạ ran, chạy te te ra quán. Ông Tám ngồi xếp bằng đối ẩm với hai người trung niên tóc lấm tấm muối tiêu ở đầu hè. Ba người đàn ông nói chuyện rổn rảng đủ thứ trên trời dưới đất như tri kỷ lâu ngày gặp mặt. Khánh, chàng trai không uống rượu, lảng vảng sau giếng, sốt sắng.
- Bốn ơi, nướng bánh tráng xong chưa để tui đem lên cho ba với hai chú nè.
Chị đỏ mặt, trả lời trống lổng mà hổng dám ngước lên: - Cà chớn! Ai cho phép anh gọi cha tui là ba vậy?
- Tui tập gọi lần là vừa, Bốn ơi.
Trong nhà, bà Tám đang nằm đưa võng nghe cải lương cứ tủm tỉm cười hoài. Bất giác, bà giật mình nhớ ra con Bốn năm nay cũng đã hăm hai tuổi...
Con mương Xóm Đậu đã thay cho mình bộ áo mới, nước sâu thẳm xanh biếc lững lờ ghé vào thăm từng thửa ruộng. Cánh thợ vét đã về hết hôm trước, Khánh xin ngủ nhờ thêm ba bữa nữa để tính toán dứt điểm công sá!
Ông Tám nheo mắt xa xăm: - Bà nè, thằng Khánh coi bộ cũng lanh lẹ đó chớ…
- Tui sao cũng được, ngó chừng con Bốn nó cũng chịu, mai mốt ông lựa chừng nói chuyện với hai đứa nó thử hé.
***
- Thiên, con nhớ mộ ông ngoại, bà ngoại để sau này có về quê thì ra thắp nhang. Ông ngoại mất lúc má có chửa con được bảy tháng, bà ngoại mất lúc con chưa thôi nôi.
Cắt liên lạc với cả anh chị, Bốn xuôi Nam tìm kế mưu sinh, một thân một mình nuôi con. Sáng, cô sắm gánh xôi gánh nắng, gánh mưa bán cho tụi con nít đi học. Chiều, cô gò lưng đạp xe bảy, tám cây số để rửa chén dĩa cho một quán nhậu. Khổ cực là vậy nhưng cô thấy được nhẹ lòng, thanh thản hơn bám víu lấy mảnh đất, khu vườn ở quê nhà. Để không còn phải đối mặt cái nhìn dè bỉu, những lời xì xầm bàn tán vào ra của những kẻ không bao giờ cảm thông với lỗi lầm của người khác, dù chuyện đã lùi sâu vào quá vãng đã nhiều năm. Người đời cũng thiệt kỳ lạ, mới năm trước có vụ ông giám đốc giàu lòng nhân ái kia đầu tư toàn bộ kinh phí đổ hai trăm mét đường bê tông để bà con đi cho đỡ cực mùa mưa, qua năm nay có thể họ quên béng mất. Tháng trước có ông giáo già hiến tặng ba trăm mét vuông đất để mở rộng trường mẫu giáo, có chỗ các cháu vui chơi, tháng sau không nhắc thì cũng chả ai còn nhớ. Vậy mà chuyện cô gái chưa chồng chỉ một chút nông nổi, lầm lỡ… họ lại say sưa, hả hê với nhau đến tận hôm nay vẫn chưa chịu dứt. Họ kể rành mạch, có dịp là lại tường tận câu chuyện như thể họ chứng kiến tận mắt mới bữa hôm qua.
Những hôm về nhà ôm thằng Thiên vào lòng, nhìn thằng nhỏ ngây thơ mơ ngủ nuốt nước miếng chèm chẹp mà lòng cô quặn thắt, nước mắt chỉ chực tuôn ra. Thằng nhỏ nó giống cha đến lạ, từ đôi mắt, cái mũi, tới cả cái cằm thon nhỏn. Ngắm nó mà cái khuôn mặt người cũ cứ lởn vởn hiện ra ám lấy tâm trí cô.
“Có con gái chửa hoang”, bấy nhiêu đủ làm ông bà Tám vốn đã yếu, lại càng thêm suy sụp, rồi lần lượt qua đời. Xóm làng bàng hoàng ngó nhau, trời đất con Bốn lâu nay ngoan hiền là vậy, ai mà ngờ... Chiều lại, chị quảy gánh rau muống đi ngang qua đầu xóm để ra chợ, đám thanh niên lúc trước thương thầm nhớ trộm mà bị chị ngó lơ đứng gãi râu coi bộ hả hê lắm. Xóm Đậu thuần hậu mấy, chất phác mấy thì cũng có đôi ba kẻ bạc ác. Thì đó cũng là bình thường ở đời. Ngặt nỗi không có ai đủ rộng lòng che chở, đủ mạnh mẽ bảo vệ cho cô gái lỡ lầm giờ đơn độc, không ông già bà cả nào ở Xóm Đậu rầy la đám người ác miệng…
Thành ra Bốn phải tô điểm ra vẻ mặt chai lỳ để sống giữa xóm làng. Của cải ông bà Tám để lại không có gì ngoài căn nhà mối đã ăn trèo trẹo trên cây đòn tay với miếng đất vườn. Cô lầm lũi với chòm rau muống, vài ba con gà để lo cho thằng Thiên ăn học. Được cái thằng Thiên là đứa biết nghe lời, lễ phép nên cô cũng được an ủi phần nào. Nhưng bữa đó, nó đi học xong về liệng cặp sách vô góc giường, xong ra dụi đầu vô đống rơm khóc hu hu, cô hoảng hồn gặng hỏi nguyên do thì bàng hoàng. Thằng Thiên bị trêu chọc là đứa không có cha cũng nhiều nhưng đó là chuyện con nít. Nhưng lần này khác. Khác ghê lắm.
Thằng nhỏ kể, học về nó đang chơi ném lon với thằng Tám Cò ngoài xóm, thì ông Sáu Lăng Nhăng đi ăn giỗ về ngang qua, thấy nó, ổng gạt chân chống, dựng xe, lè nhè:
- Thằng Thiên lớn chừng này rồi á! Càng lớn càng đẹp trai bây. Má mầy thiệt là biết chọn giống mà… Hề hề, mầy giống cha lắm con à… Ba mày vừa đẹp trai vừa là thợ vét mương có tiếng, vét giỏi tới mức vét luôn cái ấy của má mày...
May mấy người lớn gần đó can kịp chớ không thằng Thiên giết sống ông Sáu.
Cô Bốn trằn trọc mấy đêm rồi quyết định dọn nhà, hai mẹ con phải dọn đi, rời xa Xóm Đậu. Cô nuốt nước mắt ngược vào trong lòng, gương mặt như hóa đá. “Mẹ con mình phải đi khỏi xứ này thôi con. Có vậy mới thoát khỏi tủi nhục, con mới có thể tập trung mà ăn học nên người được” - Cô Bốn ôm ghì thằng Thiên vào lòng, nói với con mà cũng như nói với mình.
***
Thoáng một cái mà thằng Thiên đã tốt nghiệp đại học hạng ưu, cô Bốn cầm tấm bằng nó khoe mà mừng chảy nước mắt. Đôi bàn tay xương xẩu run run những ngón lở loét gần đụng xương vì bị nước ăn. Lưng người thiếu phụ đã khòm vì gánh nặng của thúng xôi, của những thúng tô chén ở quán ăn phải cong lưng kéo, vác.
Thiên xin má về quê thăm nhà, thăm mả ông bà ngoại, thăm tụi thằng Tám Cò, thằng Châu Chân Gỗ, con Lành. Mới đầu cô Bốn lưỡng lự, nhưng rồi cô cũng gật đầu. Hơn ai hết, cô hiểu cái nỗi nhớ quê nó da diết đến nhường nào. Mười mấy năm nay, trong giấc ngủ mê man của cô, đêm nào chẳng hiện lên hình ảnh một xóm nghèo ven mương có con bìm bịp nhớ con chiều chiều hay kêu ai oán trên đọt tre già. Thằng Thiên cũng thế, làm sao nó có thể quên Xóm Đậu, nơi có cái giếng nước bốn nhà xài chung, sáng trưa chiều tối tiếng gàu xách khỏa vào nước bì bõm, có con chị ẵm thằng em ra đầu hè tuột quần xi đái, có lùm bông bụt tụi nó hay bứt bông kết thành vòng để chơi trò cô dâu chú rể, có cái tổ chim sẻ trên cây vú sữa mà trưa nào đi học nó cũng trèo lên thăm chừng nở chưa.
… Nhưng không biết những người bạc ác ở xứ đó giờ đã khá hơn chưa…
