Thời bao cấp và những chuyện cười ra nước mắt

Theo dõi Báo Gia Lai trên Google News
Công tác ở một trường cao đẳng sư phạm của tỉnh Đồng Tháp chỉ 6 năm nhưng trong ký ức tôi đậm đặc biết bao kỷ niệm về thời bao cấp khó khăn nhưng cũng rộn tiếng cười
Tôi về trường năm 1979. Buổi đầu tiên đến lớp gặp gỡ học sinh (HS) không phải là trên bục giảng mà là đi đào đất cải tạo môi trường. Bắt đầu từ hôm đó, sau 1 tuần lễ đắp nền, dựng vách, các giáo viên chủ nhiệm như tôi đã nhận đủ HS.
Cỏ dại cũng thành cỏ sữa
Thời kỳ đó nguyên lý giáo dục là học đi đôi với hành, giáo dục kết hợp với sản xuất, nhà trường gắn liền với xã hội như một sợi chỉ đỏ xuyên suốt quá trình đào tạo. Nhưng đối với trường tôi, nguyên lý đó có vẻ gần như ngược lại: Hành là chính, hành đi đôi với học, sản xuất kết hợp với giáo dục. Chính vì thế, không biết từ bao giờ, ngôi trường có hàng ngàn học sinh đã biến thành vườn cây, trại chăn nuôi và cả lò gạch, xưởng dệt chiếu...
Mỗi HS nhập học, khi đến lớp ngoài giỏ xách tư trang, quần áo còn phải mang theo một dụng cụ lao động như cuốc, leng. Bãi đất rộng 3 ha ở thị trấn Cao Lãnh cùng dãy nhà 2 tầng 10 phòng học là gia tài mà nhà trường tiếp quản được sau giải phóng. Đây chính là phòng học khang trang nhất ưu tiên dành cho các khóa giáo sinh học tập.

Một bài báo về chuyện học sinh làm gạch
Một bài báo về chuyện học sinh làm gạch
Nhà ở tập thể, hội trường, thư viện tất cả đều mọc lên từ đôi bàn tay lao động của thầy trò chúng tôi. Không dừng lại ở đó, nhiều khu đất rộng cũng được quy hoạch thành vườn cây ăn trái mà chuối là chủ đạo như lời thơ rất phổ biến thời cải tạo vùng kinh tế mới: "Đến cỏ dại cũng mọc thành cỏ sữa". Hai hồ nước sau khi cải tạo từ nhiều ngày lao động của HS đã biến thành 2 ao nuôi cá tra hàng ngàn con.
Công sức HS đổ nhiều nhất chính là xưởng dệt chiếu cói. Thời bao cấp luôn coi trọng sản phẩm làm ra từ lao động nên việc xưởng dệt chiếu mọc lên trong trường là chuyện lạ có thật. Tùy theo năng khiếu của từng HS mà giáo viên phân công làm các công đoạn khác nhau như nhuộm cói lác, tết bím, dệt chiếu...
Nếu không có bảng tên bên ngoài ít ai nghĩ rằng trường tôi là ngôi trường chỉ dành riêng để học mà ngỡ lạc vào khu lao động của người dân kinh tế mới. Vì thế, hồi đó có báo đã đăng bài với nội dung: "Trường học hay là nơi rèn quân sự cho học trò?".
Mùa lúa, cả trường hầu như đóng cửa, tất cả tiến quân vào nông trường Láng Biển, Động Cát, Quyết Thắng đi cắt lúa mãi đến 28 Tết mới được nghỉ. Thầy trò da đen nhẻm, quần áo nhuộm phèn. Có em không chịu được lao động nặng nhọc phải trốn về. Thế nhưng, nhiều em khi ra trường đã rũ bỏ được chiếc áo tiểu tư sản, không chỉ biết cuốc đất, cắt cỏ như nông dân mà là còn là thợ gặt lúa, thợ đốt lò gạch, dệt chiếu... giỏi.
HS vất vả, thầy cô cũng chẳng sung sướng gì. Hồi đó trường thành lập Ban Lao động có 1/3 số thành viên là giáo viên phụ trách, không khí lao động còn sôi động hơn không khí học tập. Buổi sáng đi chỗ nào cũng thấy các lớp nhồi đất. Buổi tối có trăng, sân trường tấp nập tiếng đóng gạch. Hầu hết gạch phơi đầy lối đi. Thầy trò mặt đen nhẻm vì phải quạt lửa, đốt lò. Đi cắt lúa, trò cũng chia cho thầy cô 1 ngày cắt hết 1 công lúa, tối về nhức mỏi toàn thân nhưng hôm sau vẫn phải dậy sớm lội đồng.
Mặc dù thầy trò chúng tôi trực tiếp làm ra sản phẩm nhưng người trực tiếp lao động lại không được hưởng thụ. Một thầy giáo trưởng khoa đã bị phê bình vì lên tiếng dám đòi hỏi quyền lợi cho HS trong việc thu hoạch sản phẩm.
Đủ kiểu lách để kiếm thêm
Kỷ luật sắt không chỉ áp dụng cho HS mà còn áp dụng cho cả thầy cô. Quy định là không cho đi chợ, ra ngoài vào giờ hành chính. Bởi thế, gần khu tập thể giáo viên có nhiều hàng rào bị phá để một vài người "du tường tẩu" mua rau cá về nấu cơm trưa.
Một số giáo viên phải lên phòng hội đồng ngồi soạn giáo án để cuối đợt thi đua được tuyên dương, xếp thứ hạng cao hơn. Bởi chẳng thà lên văn phòng khoa ngồi chơi còn hơn ở nhà làm việc khác. Sức lao động bị phung phí một cách đáng tiếc.

Các giáo viên tại một lò gạch
Các giáo viên tại một lò gạch
Đại diện Công đoàn mỗi tuần vài lần kiểm tra đột xuất nơi ăn ở của giáo viên, chấm điểm thi đua. Không chỉ nhà ở sạch sẽ mà lúc đoàn xuống kiểm tra không có mặt cũng bị trừ điểm thi đua. Chỉ cần đầu dãy thấy bóng đoàn kiểm tra là mấy người gõ vách nhau truyền tin, tất cả dù làm việc gì cũng đành bỏ dở, giả bộ ngồi vào bàn để "thiền" như nhà sư.
Thời đó, quan hệ thầy trò phải rõ ràng, minh bạch. Em nào lên chơi nhà thầy cô nhiều là sẽ bị nhắc nhở vì nghi có thể lên xin điểm hoặc hối lộ quà cáp. HS cho cơm thừa để thầy cô chăn nuôi cũng phải kín đáo, nếu bị phát hiện thì ngày mai họp toàn cơ quan bị nhắc nhở ngay.
Hồi đó do ngăn sông cấm chợ nên giá cả chênh lệch. Giáo viên làm thêm bằng cách gửi hàng 2 chiều ra Bắc kiếm lời. Trong Nam gửi ra bằng đường bưu điện gồm vải, quần áo. Ngoài Bắc thì gửi vào có thuốc tây, đường sữa và nhất là thuốc Alusi trị đau bao tử "1 vốn 4 lời". Thế nhưng, ông chủ tịch Công đoàn được ban giám hiệu hằng tháng cử ra bưu điện thống kê danh sách giáo viên nào trong tháng gửi bưu phẩm nhiều nhất thì sẽ bị phê bình trong các cuộc họp.
Hồi đó, ai gửi hàng 2 chiều qua đường bưu điện nhiều phải mượn tên con cháu thân quen để qua mắt nhà trường. Thư từ trao đổi qua điện tín phải được mã hóa để không bị ai phát hiện ra nội dung. Một lần thầy giáo Thành dạy sinh nhận được điện tín: "Con K ốm nặng". Lúc đầu ai cũng nghĩ là con cháu của ông bệnh, nhưng sau này mới được ông giải thích nội dung là: "Vải ka tê hạ giá, đừng gửi hàng này ra nữa".

Khu nội trú nữ. (Ảnh tư liệu do tác giả cung cấp)
Khu nội trú nữ. (Ảnh tư liệu do tác giả cung cấp)
Cũng do chế độ bao cấp, mọi việc có nhà nước lo nên ý thức bảo vệ của công hầu như không có mà theo kiểu "cha chung không ai khóc". Từ nấu cơm, nấu nước và cả nấu cám heo cũng xài điện cơ quan không thương tiếc vì coi đó là của chùa. Có người còn phá giường nằm của HS để về đóng chuồng gà, chuồng vịt. Tài sản của nhà nước vì vậy mà thất thoát không ít.
Năm 1986 bước sang thời kỳ đổi mới, chế độ quan liêu bao cấp dần trôi vào dĩ vãng và cuộc sống thay đổi từng ngày…
Nhiều khi ngồi nghĩ lại cảnh sống kham khổ ngày xưa có người tự hỏi sao mình lại có sức lực để vượt qua một cách giỏi giang như vậy. Đó là lý do sau 40 năm gặp các đồng nghiệp cũ, chuyện từ trong ký ức vẫn nở như ngô rang… 
Nhường gạo cho heo!
Nhờ có lò gạch mà việc xây chuồng gà, chuồng heo không phải tốn tiền mua vật liệu. Tết thì có trâu, bò, vịt, heo tự túc. Thời đó, mấy bà nhà bếp nuôi heo vất vả nhất vì heo không chịu ăn bo bo. Họp cơ quan, bà Liên, tổ trưởng bếp ăn tập thể, nêu ý kiến: "Gần Tết rồi mà heo không lớn vì không chịu ăn bo bo. Tôi đề nghị để bo bo cho thầy cô ăn, ưu tiên gạo cho heo như vậy mới vỗ béo được". Cả cơ quan cười ồ nhưng đằng sau đó là nỗi buồn nặng trĩu.
Từ ngày 1-8 đến 20-9, Ban Tổ chức cuộc thi viết “Từ trong ký ức” nhận được hơn 150 tác phẩm dự thi của các tác giả ở nhiều tỉnh, TP: TP HCM (Trần Minh Trang, Bùi Hiển, Nguyễn Thị Thuyền, Hoàng Thị Hiền...), Hà Nội (Nguyễn Hồng Hà, Nguyễn Thị Hường, Nguyễn Thị Hồng Thương, Phạm Giai Quỳnh,...), Đà Nẵng (Nguyễn Văn Học), Phú Thọ (Nguyễn Quang Nam), Sơn La (Nguyễn Vũ Điền), Khánh Hòa (Nguyễn Hữu Phú), Cần Thơ (Lam Hậu Giang),...
HƯƠNG THỦY (NLĐO)

Có thể bạn quan tâm

Ký ức không phai của nữ Anh hùng Kpă Ó

Ký ức không phai của nữ Anh hùng Kpă Ó

(GLO)- Chiến tranh đã lùi xa hơn nửa thế kỷ nhưng trong ngôi nhà nhỏ ở làng Bạc 1 (xã Chư Prông, tỉnh Gia Lai), ký ức về một thời hoa lửa vẫn vẹn nguyên qua từng câu chuyện của bà Kpă Ó - nữ Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân duy nhất ở khu vực phía Tây tỉnh trong cuộc kháng chiến chống Mỹ.

Chiếc a chói giữa rừng Trường Sơn

Chiếc a chói giữa rừng Trường Sơn

Dưới mái hiên nhà sàn ở xã La Lay (Quảng Trị), tiếng dao chẻ tre vang lên đều đặn giữa buổi sớm. Nghệ nhân Hồ Văn Thành ngồi bên bó mây vừa lấy từ rừng về. Ông tỉ mẩn đường dao chuốt từng sợi nan tre. Ở miền tây Quảng Trị, hình ảnh ấy không hiếm gặp...

Nghị lực phi thường của người thương binh hạng nặng Lê Thái Hà

Nghị lực phi thường của người thương binh hạng nặng Lê Thái Hà

(GLO)- Khi bị thương nặng tại chiến trường Campuchia, ông Lê Thái Hà (trú phường Bình Định, tỉnh Gia Lai) không nghĩ mình sẽ sống sót. Phục viên với sức khỏe suy giảm đến 91%, ông cũng từng không dám mơ đến những điều xa xôi về tương lai. Vậy mà người cựu chiến binh ấy đã can trường vượt qua tất cả.

4 ngày làm vợ, 54 năm đợi chờ

4 ngày làm vợ, 54 năm đợi chờ

Sau 54 năm kể từ ngày liệt sĩ Nguyễn Văn Đinh ngã xuống trên chiến trường Quảng Trị, bà Nguyễn Thị Ngọ (Nghệ An) mới được đứng trên mảnh đất ông hy sinh. Hành trình ấy khép lại nỗi khắc khoải của một người vợ, nhưng mở ra câu chuyện lay động về tình yêu, sự thủy chung không phai theo năm tháng.

'Bí kíp' nón ngựa nghĩa quân Tây Sơn

'Bí kíp' nón ngựa nghĩa quân Tây Sơn

Nghệ nhân ưu tú Đỗ Văn Lan (80 tuổi, ông Ba Lan) đang giữ nguyên vẹn “bí kíp” tổ truyền làm “nón ngựa Phú Gia” mà ngày xưa nghĩa quân Tây Sơn đội nắng mưa hành quân thần tốc. Những chiếc nón không chỉ như một tác phẩm nghệ thuật mà còn rất bền.

Hành trình lạc lối sau giấc mơ đổi đời

Hành trình lạc lối sau giấc mơ đổi đời

(GLO)- Tin vào những lời hứa hẹn về cuộc sống sung túc và cơ hội định cư ở nước thứ ba, nhiều người dân ở Gia Lai đã vượt biên sang Thái Lan. Những tháng ngày sống chui lủi, thiếu thốn, ly tán là cái giá đắt cho lựa chọn sai lầm, đồng thời là lời cảnh tỉnh về hệ lụy của di cư trái phép.

Chợ ở Quy Nhơn xưa

Chợ ở Quy Nhơn xưa

Với vùng đất Quy Nhơn xưa (nay thuộc tỉnh Gia Lai), tìm hiểu những ngôi chợ cũ cũng là lần giở lại ký ức về quá trình hình thành và phát triển của một đô thị thương cảng, đặc biệt trên phương diện giao thương.

Khi độc mộc trôi vào ký ức

Khi thuyền độc mộc trôi vào ký ức

(GLO)- Những con thuyền độc mộc thanh mảnh như chiếc lá từng nhẹ lướt trên dòng Pô Cô đã biến mất. Cảm giác tĩnh lặng xuôi dòng bị thay thế bởi tiếng thuyền máy. Bóng người chưa kịp in xuống đáy nước đã nhòa tan theo bọt sóng trắng xóa hai bên mạn thuyền.

Lính công binh hồi sinh những vùng đất chết

Lính công binh hồi sinh những vùng đất chết

(GLO)- Giữa những cánh rừng và triền núi của phường Bồng Sơn và xã An Toàn, nơi chiến tranh từng đi qua và để lại vô số vết thương, cán bộ, chiến sĩ Lữ đoàn Công binh 7 (Quân đoàn 34) đang lặng lẽ thực hiện nhiệm vụ rà phá bom mìn, trả lại sự an toàn cho đất đai và cuộc sống bình yên cho người dân.

Từ Tiên Nữ đến Núi Le C: Khát vọng xanh giữa trùng khơi

Từ Tiên Nữ đến Núi Le C: Khát vọng xanh giữa trùng khơi

(GLO)- Giữa biển trời Tổ quốc, cán bộ, chiến sĩ đảo Tiên Nữ và Núi Le C vẫn kiên cường bám biển, giữ đảo. Vượt qua nắng gió khắc nghiệt và thiếu thốn nơi đầu sóng, những người lính đảo đang lặng thầm vun đắp màu xanh sự sống, giữ vững chủ quyền thiêng liêng của biển đảo quê hương.

“Đường về” của Siu Un

“Đường về” của Siu Un

(GLO)- Sau những sai lầm trong quá khứ, ông vượt qua mặc cảm, thay đổi nhận thức, trở thành người tích cực tuyên truyền pháp luật, vận động bà con sinh hoạt tôn giáo đúng quy định, góp phần giữ gìn bình yên buôn làng.

null