Số phận kho báu trong tay triều đình Huế

Theo dõi Báo Gia Lai trên Google News

Sau khi không có dấu hiệu gì cho thấy vua Hàm Nghi quay trở về Huế, được sự chấp thuận từ chính quốc, tướng De Courcy đã chia kho báu triều Nguyễn làm hai phần: một phần mang về Pháp, một phần đặt dưới sự quản lý của triều đình Huế.

 Vua Thành Thái, người chủ trương chuyển kho bạc thành đồng bảng Anh - Ảnh: TƯ LIỆU
Vua Thành Thái, người chủ trương chuyển kho bạc thành đồng bảng Anh - Ảnh: TƯ LIỆU


Phần còn lại của kho báu đã được Tổng trú sứ Paul Bert bàn giao cho triều đình Huế dưới quyền vua Đồng Khánh. Song trong lúc người Pháp có những dữ liệu cụ thể về tình trạng của phân nửa kho báu đưa về Pháp thì họ không nắm được tình hình của phân nửa còn lại ở Huế.

Theo François Thierry, tác giả quyển Le trésor de Huê - une face cachée de la colonisation de l’Indochine (Kho báu ở Huế - một bộ mặt bị che khuất của chế độ thuộc địa tại Đông Dương), phần kho báu này biến mất trong vòng 20 năm. Chữ “biến mất” có thể hiểu là nó nằm ngoài tầm kiểm soát của họ, khi vua Đồng Khánh và các vua tiếp theo có toàn quyền quản lý và sử dụng nó.

Vua Đồng Khánh và số của cải được chôn giấu

Theo nhận định của nhiều tác giả Pháp vào thời kỳ này, vua Đồng Khánh là người “dễ khiến” (docile) và hay âu lo. Đây cũng là thời kỳ khởi đầu cho chính sách thuộc địa hóa toàn diện của Pháp tại ba nước Đông Dương. Pháp bắt đầu tê liệt hóa guồng máy thu thuế của triều đình, buộc vua quan nhà Nguyễn phải sống dựa vào những khoản chu cấp của chính quyền bảo hộ tại Bắc kỳ. Quyền hành của triều đình Huế ngày càng bị giới hạn, từ thời Tổng trú sứ Paul Bert đến Toàn quyền Đông Dương Constans và ở mức tối đa với Toàn quyền Paul Doumer (1897 - 1902).

Bên cạnh phần kho báu đã giao trả lại cho phía Việt Nam và phần tiền cung cấp thường xuyên từ ngân sách của chính quyền thuộc địa, thực dân Pháp còn ghi nhận được những phát hiện mới về một số của cải đã được chôn giấu từ nhiều thập niên trước. Sau cái chết của vua Đồng Khánh vào ngày 28.1.1889, Tổng trú sứ Trung và Bắc kỳ Paul Rheinart đã có dịp vào trong cung cấm, quan sát nhiều nơi và được biết là trong thời gian tại vị, nhà vua đã phát hiện và lấy sạch số vàng được chôn giấu ở ít nhất ba nơi. Rheinart xác định còn nhìn thấy 3 tấm đá lát có từ thời vua Minh Mạng và ước lượng mỗi nơi chôn giấu 100 ngàn lạng bạc.


 

Thượng thư Nguyễn Hữu Bài, người chống lại việc đào tìm kho báu tại Khiêm lăng năm 1913
Thượng thư Nguyễn Hữu Bài, người chống lại việc đào tìm kho báu tại Khiêm lăng năm 1913


Hơn 10 năm sau (1899) dưới thời vua Thành Thái, người ta còn phát hiện thêm 4 nơi chôn giấu vàng bạc tương tự, mỗi nơi chứa 10 ngàn thỏi, mỗi thỏi bằng 10 lạng bạc. Tính chung, ngoài kho báu đã được chia đôi (Việt và Pháp), số vàng bạc tìm thấy về sau ước tính lên đến 300 ngàn lạng bạc.

Những vụ cướp phá mới

Cái chết của vua Đồng Khánh kéo theo những vụ cướp phá mới, dẫn đến việc thực dân Pháp xen hẳn vào việc quản lý tài sản của triều đình. Ngay khi nhà vua vừa nằm xuống, cửa cung điện bị phá, khoảng hơn 120 phụ nữ phục vụ trong cung đình mang nhiều rương của cải ra khỏi hoàng thành. Thái hoàng Thái hậu Từ Dụ đã bị mù, Hoàng thái phi Trang Ý bất lực trước cảnh tượng cướp phá diễn ra.

Đến 3 ngày sau, Hội đồng Phụ chánh và các quan chức Pháp mới can thiệp và chấm dứt được nạn cướp phá. Trong tập nhật ký của mình, Tổng trú sứ Rheinart kể rằng ông ta đã đề nghị bà Từ Dụ bắt giữ hết tất cả phụ nữ trong cung điện “cho đến khi tìm lại được mọi thứ”.

Sự tổn thất của kho báu sau cái chết của vua Đồng Khánh là không kể xiết. Ở Duyệt thị đường (nhà hát cung đình), người ta tìm thấy hai rương lớn chứa vàng bạc, sau đó là những đồ trang sức, kim cương, đá quý, huy chương Kim khánh bội tinh đính kim cương và đá quý của vua Đồng Khánh. Người ta còn tìm thấy 450 ngàn đồng bạc cất giấu ở 4 nơi trong cung điện.

Cuối năm 1898, vua Thành Thái đưa ra một quyết định táo bạo: đổi kho dự trữ bằng bạc của triều đình ra đồng bảng Anh. Người ta đã bán ra 70 ngàn thỏi bạc. Việc chuyển đổi thực hiện qua trung gian của Ngân hàng Đông Dương, thông qua chính quyền thuộc địa. Ngân hàng này chọn đồng bảng Anh làm tại Úc với khoản lợi lớn hơn so với những đồng bảng mua tại Pháp. Các thỏi vàng còn lại được làm ra những đồng tiền và huy chương mang niên hiệu Thành Thái.

Tháng 8.1899, người ta lại khám phá trong cung điện thêm 3 hầm bạc, mỗi hầm chứa gần 10 ngàn nén, tức gần 100 ngàn lạng, tất cả được chôn giấu trong năm 1833 và 1835 dưới thời vua Minh Mạng. Việc tìm kiếm kết thúc ngày 12.9.1899.

Sang thế kỷ 20, hai sự kiện liên quan đến câu nói: “Bỏ vua không Khả, đào mả không Bài” được nhiều người nhắc đến. Vế sau của câu nói ám chỉ việc Khâm sứ Pháp Mahé cho đào tìm kho báu trong phạm vi Khiêm lăng (lăng của vua Tự Đức) vào khoảng đầu năm 1913, kết quả không tìm thấy gì. Thượng thư Nguyễn Hữu Bài đã chống lại việc đào tìm kho báu tại Khiêm lăng này.

Theo bộ Đại Nam thực lục - Đệ lục kỷ phụ biên, vào tháng 7 âm lịch năm 1915, giữa lúc thi công ống nước trong Đại nội, người ta đã chạm phải hầm bạc. Đào xuống hầm, họ lấy lên được 60 rương gỗ chứa 10 ngàn thỏi bạc cùng một số tiền đồng. Viên Khâm sứ Charles đề nghị trích 20 ngàn đồng trong số bạc trên cùng 50 ngàn đồng lấy từ công quỹ để mua trái phiếu quân dụng do Pháp phát hành, hầu đóng góp vào chi phí chiến tranh mà chính quốc đang trải qua trong Thế chiến thứ nhất 1914 - 1918.
Đó là những tình tiết cuối cùng về kho báu triều Nguyễn trước khi kết thúc triều Duy Tân năm 1916.

Theo LÊ NGUYỄN (TNO)

Có thể bạn quan tâm

Nét đẹp cúng Quý xuân ở đình An Mỹ

Nét đẹp cúng Quý xuân ở đình An Mỹ

(GLO)- Cứ đến ngày 10 tháng 2 hàng năm, người dân phường An Phú (tỉnh Gia Lai) lại tổ chức Lễ cúng Đình làng An Mỹ. Đây là nét đẹp trong đời sống tín ngưỡng của người dân, thể hiện lòng biết ơn các bậc tiền hiền, hậu hiền khai hoang lập đất và cầu cho quốc thái dân an, mưa thuận gió hòa.

Các thung lũng ở Quy Nhơn xưa

Các thung lũng ở Quy Nhơn xưa

(GLO)- Trong cuốn "Du ký Trung kỳ theo đường cái quan", Camille Paris - nhà khảo cổ người Pháp từng tham gia xây dựng đường điện báo tại Trung Kỳ giai đoạn 1885-1889 đã nhắc đến 2 thung lũng nổi tiếng của Quy Nhơn xưa: thung lũng Công và thung lũng Gà.

Lễ cúng Quý Xuân tại tổ đình An Khê

Lễ cúng Quý Xuân tại tổ đình An Khê

(GLO)- Sáng 28-3 (tức mùng 10 tháng 2 âm lịch), tại đình An Khê (phường An Khê, tỉnh Gia Lai), Ban Nghi lễ đình tổ chức lễ cúng Quý Xuân trong không gian linh thiêng, rộn ràng tiếng chiêng, trống giữa tiết trời đẹp nhất của mùa xuân.

Di tích Plei Ơi chào đón du khách

Di tích Plei Ơi chào đón du khách

(GLO)- Khu di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia Plei Ơi - điểm đến mang giá trị tâm linh, lịch sử gắn với truyền thuyết Vua Lửa của đồng bào Jrai ở xã Chư A Thai - vừa được đầu tư đồng bộ, khang trang, sẵn sàng chào đón du khách trong Năm Du lịch quốc gia - Gia Lai 2026.

Lặng lẽ tìm về ký ức nghề xưa

Lặng lẽ tìm về ký ức nghề xưa

(GLO)- Cuối năm 2025, cuốn sách Nghề dệt truyền thống tỉnh Bình Định (từ thế kỷ XIX đến nay) của ThS. Hoàng Bình ra mắt bạn đọc như một công trình biên khảo công phu về một nghề thủ công từng gắn bó mật thiết với đời sống người dân đất Võ.

Bộ chiêng của các thủ lĩnh Jrai trở thành bảo vật quốc gia

Bộ chiêng Kơ Đơ trở thành bảo vật quốc gia

(GLO)- Bộ cồng chiêng Kơ Đơ (niên đại đầu thế kỷ XX) vừa được công nhận là bảo vật quốc gia. Không chỉ là nhạc cụ cổ, chiêng Kơ Đơ còn là hiện vật gắn với những thủ lĩnh Jrai xưa, phản ánh cấu trúc xã hội, đời sống tín ngưỡng và nghệ thuật âm nhạc độc đáo của cư dân Tây Nguyên.

Những mùa xuân huy hoàng trên kinh thành

Những mùa xuân huy hoàng trên kinh thành Hoàng Đế

(GLO)- Thành Hoàng Đế thuộc huyện An Nhơn, tỉnh Bình Định (cũ) là di tích duy nhất còn lại của vương triều Tây Sơn. Đây là một công trình kiến trúc thành cổ khá đặc biệt, sau 6 lần khai quật khảo cổ phục vụ nghiên cứu và trùng tu, đến nay vẫn còn nhiều bí ẩn...

Giai thoại về ba con ngựa nổi tiếng trong lịch sử

Giai thoại về ba con ngựa nổi tiếng trong lịch sử

(GLO)- Trong dòng chảy lịch sử, không chỉ có những bậc anh hùng làm nên huyền thoại, mà còn có những chiến mã góp phần tạo nên kỳ tích. Trong những thời khắc sinh tử, có 3 con ngựa nổi tiếng đã đi vào sử sách như biểu tượng của lòng trung nghĩa và sức mạnh phi thường.

Chất thuần khiết nâng tầm thổ cẩm

Chất thuần khiết nâng tầm thổ cẩm

(GLO)- Với việc hợp chuẩn OCOP, nhiều sản phẩm thổ cẩm Bahnar, Jrai ở Gia Lai bắt đầu định vị được thương hiệu. Quá trình này có công rất lớn của nhiều phụ nữ, nghệ nhân đã dồn tâm huyết từng bước đưa thổ cẩm truyền thống ra thị trường.

Tiến sĩ Lê Quang Lâm cùng câu chuyện tù và Jrai

Tiến sĩ Lê Quang Lâm cùng câu chuyện tù và Jrai

(GLO)- Hiểu về văn hóa Tây Nguyên bắt đầu từ những hiện vật dân tộc học, đó cũng là một trong những cách tiếp cận của TS. Lê Quang Lâm (phường Diên Hồng, tỉnh Gia Lai) khi nghiên cứu về văn hóa của người Jrai. Trong hàng nghìn hiện vật mà ông dày công sưu tầm, có bộ sưu tập tù và Jrai độc đáo.

Giọt nước - Mạch nguồn văn hóa Jrai

Giọt nước - Mạch nguồn văn hóa Jrai

(GLO)- Ở Tây Nguyên, những bước chân đầu ngày của người Jrai hướng về giọt nước của làng. Nguồn nước trong lành từ đó đã đi cùng các buôn làng qua bao mùa rẫy, bao thế hệ; đồng thời lưu giữ những lớp trầm tích văn hóa, tín ngưỡng và nếp sinh hoạt cộng đồng từ ngàn xưa.

null