"Những lá thư thời chiến Việt Nam": Thời gian xanh mãi...

(GLO)- Trong cuộc sống, có những người làm vai trò kết nối để thế giới xích lại gần nhau, có những kỷ vật gợi nhớ về quá khứ và đem đến những thông điệp quý giá. Tương tự, cuốn sách “Những lá thư thời chiến Việt Nam” do nhà văn Đặng Vương Hưng tập hợp và biên soạn, giới thiệu đã thực sự là một bảo tàng lưu giữ những kỷ vật của một thời rực màu hoa lửa từ các cuộc kháng chiến vệ quốc vĩ đại của dân tộc.

Những lá thư ấy “không chỉ là sợi dây kết nối tình cảm của những người đang xa cách, mà còn là những tư liệu phản ánh về chiến tranh một cách xác thực. Đằng sau đó là biết bao câu chuyện cảm động về những người lính và gia đình họ”. Thư từ không chỉ làm sáng tỏ cuộc đời một con người, mà còn có thể chứng thực, góp phần lý giải những bí mật của lịch sử một dân tộc ở một thời điểm nào đó.

 

"Những lá thư thời chiến Việt Nam": Thời gian xanh mãi... ảnh 1
 

Khảo sát gần 330 lá thư của 127 tác giả được Ban Biên tập sưu tầm biên soạn và chọn lọc trích dẫn trong 819 trang sách, chúng ta được nhận nhiều thông điệp về con người và lịch sử. Song, điều tôi muốn nói đến ở đây chính là những khoảnh khắc thời gian, không gian trong nhiều bức thư gắn với những tâm tư, khát vọng rất con người, bình dị nhưng cũng thiêng liêng, cao đẹp, giúp chúng ta cảm nhận sâu hơn đời sống tình cảm của một thế hệ trong thời chiến tranh. Khoảnh khắc thời gian và nội cảm của họ như còn xanh mãi.       

Những thời điểm xuất hiện trong các lá thư thời chiến thường là lúc chuẩn bị vào chiến trường sau những ngày tập luyện, chuẩn bị vào trận đánh, những dịp lễ Tết, lúc có chiến công… Trong những giờ khắc ấy, cảm xúc nhớ quê hương, gia đình người thân như trỗi dậy mãnh liệt. Họ muốn chia sẻ, bày tỏ những tình cảm nhớ thương mong đợi, những trăn trở lo âu cho gia đình nơi quê nhà, những khát vọng về sự hội ngộ, lời hẹn thề trong tình yêu. Lá thư của người lính Hoàng Kim Giao có dòng tâm sự: “Những lúc đứng giữa cảnh chết chóc hoang tàn đó, con nghĩ nhiều đến hạnh phúc gia đình, nghĩ tới ngày sum họp, nghĩ tới những ngày hòa bình và con nghĩ ước mơ ngày về gặp mặt cậu mợ và các em con. Con luôn cố gắng hoàn thành nhiệm vụ để Tết có thể về nhà với gia đình, ngày ấy nhất định sẽ tới”.

Cũng trong những giờ khắc ấy, ngọn lửa của khát vọng sống chết cho lý tưởng thiêng liêng mà họ phụng sự được tỏa sáng một cách mạnh mẽ. Những năm tháng ở chiến trường, người lính hiểu rõ khó khăn, thử thách nhưng vẫn lạc quan, sẵn sàng hiến dâng cuộc đời tuổi trẻ cho lý tưởng, mục tiêu cao đẹp. Họ hiểu rõ họ chiến đấu vì ai, vì điều gì và phải quyết tâm như thế nào: “Chị Lệ ơi, đã đến giờ vinh quang, đến giờ em bước chân lên đường đi chiến đấu. Chị ở lại cố gắng công tác học tập tốt, để đạt được lý tưởng của Đoàn. Chúng ta cùng cố gắng làm được theo lời của Paven: Đời người ta chỉ sống có một lần. Phải sống sao cho khỏi xót xa với những năm tháng sống hoài sống phí. Để khi nhắm mắt xuôi tay ta có thể nói suốt đời ta đã cống hiến phục vụ cho cuộc đấu tranh giải phóng loài người”.

Trong số này có một bức thư đặc biệt, được viết trước giờ vượt sông Thạch Hãn, cái giờ khắc mà người lính sẵn sàng tâm thế quyết tử. Người viết đã thổ lộ hết tâm tư nguyện vọng và cả những sắp xếp cho tương lai: “Em yêu thương! Mọi lá thư đến với em đều là nguồn động viên em khi xa anh. Song, lá thư này đến tay em là nỗi buồn nhất và có lẽ là nỗi buồn đầu tiên trong cuộc đời của em. Em ạ, chúng ta đã sống với nhau chẳng được là bao thì chiến tranh đã cướp đi của em biết bao tình thương yêu, trìu mến… Thật chỉ là vừa gặp nhau đã phải mãi mãi xa nhau. Anh rất hiểu: Biết tin này em sẽ gầy đi nhiều vì thương nhớ anh, vì đã phải xa anh. Anh rất muốn được sống mãi mãi bên em. Song vì chiến tranh... thì em ơi, hãy gạt nước mắt cho đời trẻ lại. Giờ đây anh biết nói gì với em. Chỉ mong em khỏe, yêu đời...

Em thương yêu! Nếu thực sự thương anh thì em hãy làm theo lời anh căn dặn: Hàng năm, cứ đến ngày này, em hãy thắp vài nén hương tưởng nhớ tới anh” .

Có lẽ những dòng thư rất riêng tư ấy là minh chứng để chúng ta thêm khẳng định điều mà mình cảm phục khi được đọc những vần thơ của Tố Hữu về một thời đại mà lớp lớp thanh niên lên đường ra chiến trận với một tinh thần: “Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước/Mà lòng phơi phới dậy tương lai”. Những dòng thư chân thành ấy giúp người đọc củng cố thêm niềm tin về thế giới tâm hồn cao đẹp của thế hệ trải qua chiến tranh với bao điều kiện thử thách khắc nghiệt nhưng vẫn lãng mạn. Hơn thế, càng thấm thía hơn cái điều mà nhà văn Nguyễn Minh Châu đã khẳng định: “Tình yêu và niềm tin vào cuộc sống, cái sợi chỉ xanh qua bao nhiêu năm tháng của chiến tranh vẫn không hề bị đứt”. Chính điều này làm nên sức mạnh, vẻ đẹp rất đáng tự hào của con người Việt Nam trong chiến tranh. Trong một lá thư có những dòng đầy ám ảnh, chính người trong cuộc khẳng định: “Còn một nguyên nhân của thắng lợi, đó là niềm tin. Chỉ có lòng tin, tin ở bản thân, tin ở tình yêu, tin ở mục tiêu đã chọn và con đường sẽ đi. Lòng tin sẽ giúp ta chiến thắng tất cả. Có phải vậy không, vợ yêu quý của anh?”.

Một trong những tình cảm mà người lính bày tỏ khi xa cách chính là nỗi nhớ thương trong tình yêu. Trước thứ thuốc thử là thời gian và không gian gắn với chiến tranh, đã có những “thân phận tình yêu” hết sức xót xa; không phải tình yêu nào cũng đơm hoa kết trái, không phải ước mơ hạnh phúc nào cũng thành hiện thực. Đã có những lời tỏ tình chưa kịp đến với người nhận thì họ đã hy sinh. Nhưng cũng đã có nhiều câu chuyện tình yêu lung linh sắc màu rất lãng mạn, ngọt ngào trong nhung nhớ và sự thủy chung:

“Hôm nay sắp đến ngày 8-4-1968. Em Hoài Liên!

Không! Anh không bao giờ quên em cả, dù núi sông có ngăn cách chúng ta, dù hiểu biết giữa chúng ta với nhau chỉ tính được vài tuần, có nghĩa là trước kia anh ra sao thì bây giờ vẫn thế… Những gì đã nhen nhóm trong tình cảm dù chỉ là bé ti tí vẫn tồn tại và trở nên sáng long lanh như mặt biển về đêm khuya. Không động đến thì thôi chứ động đến thì có vô vàn là ánh sáng tung lên, tiềm tàng ngàn kiếp”.

Và niềm tin yêu mãnh liệt: “Em thân yêu! Mỗi khi nghĩ tới em anh càng cảm thấy tự hào về em. Một người con gái yếu đuối mà dũng cảm, biết sống có lý tưởng. Điều ấy làm anh hoàn toàn tin ở em. Em rất xứng đáng là người vợ, người đồng chí, người bạn trung thành nhất đời của anh. Mơ ước của chúng ta rồi sẽ thực hiện được em ạ. Và ngày ấy chắc không còn xa nữa đâu. Anh sẽ chuẩn bị đón em về, không phải chỉ có nghi thức mà còn có hoa hồng, tình yêu quê hương và đất nước nữa”.

Và, trong tình yêu, tình cảm riêng tư ấy còn có sự hòa quyện với tình yêu quê hương đất nước: “Viết thư này ra em trong không khí rất tươi vui của một ngày Tết chiến thắng trên rừng Trường Sơn. Các anh bạn anh gửi lời thăm gia đình và thăm em. Hiện nay em chẳng thể tới thăm anh ở rừng Trà Mi được, nhưng khi hòa bình chiến thắng rồi em sẽ có điều kiện vào trong này thăm miền Nam đấy. Em sẽ qua cầu Hiền Lương, qua Huế, Đà Nẵng... thăm thành đồng anh hùng của Tổ quốc, nơi người chồng thân yêu của em đã anh dũng chiến đấu…”.

Dường như chiến tranh buộc con người ta phải sống chậm. Thư được hình thành đôi khi trong một khoảng thời gian khá dài, đang viết dang dở thì người viết lao vào trận đánh, hôm sau hoặc ít lâu sau lại tiếp tục viết. Thư viết xong có khi gửi được ngay, nhưng cũng có những lá thư phải rất lâu sau đó mới được chuyển đi. Để nhận được lá thư từ chiến trường có khi cũng mất vài tháng. Khi thư đến nơi cần đến, người gửi có thể không còn nữa hoặc người nhận đã hy sinh. Cũng có những con số thời gian gợi ám ảnh về tình huống bi thương: “Đau xót lắm cô chú ơi! Bức điện giấy xanh đi từ Bắc Giang ngày 15-7 hồi  9 giờ 30 phút tối đến sáng 16-7 hồi 8 giờ 15 phút tới Bưu điện Đan Phượng mà mãi 6 giờ 30 phút chiều mới tới tay tôi. Khi cầm tờ giấy xanh và bức thư cháu đề ngày 6-7 gửi về thăm gia đình, cho biết cháu sắp được biên chế và chuyển về Yên Viên hoặc Gia Lâm, khi cháu đang còn sống, mà lại theo cùng tờ giấy xanh tới cùng một lúc khi chết… Con tôi nay đã chết rồi, tìm đâu cho ra nữa con ơi!?”.

Không chỉ đem đến cho thế hệ sau những thông điệp về hiện thực và con người trong những năm tháng chiến tranh, cuốn sách còn có ảnh hưởng to lớn bởi những bài học nhân văn cao cả. Bên cạnh những nỗi niềm suy tư trăn trở được tỏ bày trên những trang thư, đâu đó  còn có những tầng vỉa khuất lấp, những bí mật chưa thể sẻ chia song vẫn có ý nghĩa vô cùng to lớn với người đọc thế hệ hôm nay và mai sau: nhắc nhớ về một thời đã qua, về thế giới tinh thần của một thế hệ đã sống và chiến đấu cho quê hương đất nước. Cuốn sách thực sự giúp người đọc mở rộng thêm biên độ hiểu biết của mình về quá khứ. Và, một khi có được sự am hiểu thì sẽ có được sự cảm thông, trân trọng, biết ơn với những gì mà thế hệ cha anh đem lại, từ đó biết nhìn nhận hiện tại với thái độ khách quan hơn.

Những dòng này chính là cách tỏ bày sự trân trọng, tri ân đối với các tác giả, những người chắt chiu những hạt bụi vàng để làm nên một bông hồng vàng nối kết với quá khứ...

Lê Thu

Có thể bạn quan tâm

Thơ Nguyễn Hoàng Thu: Tình yêu

Thơ Nguyễn Hoàng Thu: Tình yêu

(GLO)-Cả bài thơ là sự nối tiếp của những phép so sánh. Dù tình yêu đến hay chia xa, nắng vẫn ươm vàng, bầu trời vẫn xanh, biển vẫn động đầy nỗi nhớ. Dường như, bằng cách này, tác giả Nguyễn Hoàng Thu như muốn khẳng định sự vĩnh cửu, lâu dài, bền chặt của tình yêu.
Hương Tết xưa qua thư pháp Việt

Hương Tết xưa qua thư pháp Việt

(GLO)- Năm mới, nhiều người Việt vẫn lưu giữ cho mình “phong vị” Tết xưa qua những bức thư pháp chúc xuân ý nghĩa, những câu đối đỏ uyển chuyển, mềm mại, rực rỡ sắc màu… Nhiều gia đình lựa chọn thư pháp làm quà tặng người thân, bạn bè cho một năm mới nghênh đón nhiều tài lộc, bình an.
Thơ Lữ Hồng: Bất chợt mùa xuân

Thơ Lữ Hồng: Bất chợt mùa xuân

(GLO)- Nhà thơ Văn Công Hùng từng nhận xét: “Lữ Hồng trải nghiệm cảm xúc của mình từ đá, từ núi, từ phố, từ đêm... từ nhiều thứ và vượt qua bản thân mình”. Lần này, với bài thơ “Bất chợt mùa xuân”, cô trải nghiệm cảm xúc tinh tế, trong trẻo của mình từ mùa xuân.
Gương mặt thơ: Văn Công Hùng

Gương mặt thơ: Văn Công Hùng

(GLO)- Một chùm thơ về Pleiku, nơi anh đã sống và lao động nghệ thuật hơn 40 năm qua. Với 16 đầu sách văn học đã xuất bản, hàng ngàn bài báo đã in, nhà thơ Văn Công Hùng vẫn miệt mài sáng tạo hàng ngày, dẫu anh đã về hưu gần 5 năm nay. Chùm thơ này như một cách anh trả ơn Pleiku, trả ơn nơi đã giúp anh trưởng thành.
Thơ Lê Đình Trọng: Nắng xanh

Thơ Lê Đình Trọng: Nắng xanh

(GLO)- Phố núi với thông xanh, nhịp chiêng ngân, vòng xoang chuếnh choáng luôn là chủ đề bất tận đối với thơ, văn. “Nắng xanh” của tác giả Lê Đình Trọng thêm một lần nữa cho thấy sức mê hoặc của vùng đất đầy nắng, gió song cũng rất nên thơ, trữ tình.
Thơ Nguyễn Thanh Mừng: Một ngày Pleiku

Thơ Nguyễn Thanh Mừng: Một ngày Pleiku

(GLO)- “Một ngày Pleiku” của Nguyễn Thanh Mừng là những cảm nhận đầy tinh tế về tiết trời phố núi trong ngày với đầy đủ biến chuyển xuân, hạ, thu, đông. Ở đó còn có tấm chân tình nối liền duyên hải-cao nguyên để mà “chén vui chạm với chén ngông”, “bạn hiền gọi tiếp bạn hiền”…
Thơ Văn Công Hùng: Pleiku chợt tôi…

Thơ Văn Công Hùng: Pleiku chợt tôi…

(GLO)- Vẫn là cái cảm thức đau đáu yêu Tây Nguyên, yêu Pleiku đến như có thể ngơ ngác, đến như phát hiện chiều “như vừa bong vỏ”, Văn Công Hùng “chợt tôi” vừa như một cuộc trở về lại như sắp sửa ra đi. Cái dùng dằng hóa thân ấy để có một bài thơ đầy day dứt...
Thơ Lê Từ Hiển: Mẹ và mùa xuân

Thơ Lê Từ Hiển: Mẹ và mùa xuân

(GLO)- Vẫn bằng thủ pháp lạ hóa với “tiếng chim nghiêng qua mái”, “bài ca chín rồi”, “hương trầm nâng khăn”…, những lời thơ trong bài “Mẹ và mùa xuân” của nhà thơ Lê Từ Hiển dạt dào xúc cảm, thổn thức nỗi nhớ thương.
Nhớ món thịt thưng

Nhớ món thịt thưng

(GLO)- Hồi nhỏ, bữa cơm Tết gia đình thường có nhiều món ăn ngon nhưng tôi thích nhất món thịt heo thưng. Thịt heo nạc đem thưng đương nhiên ngon; nhưng kỳ lạ, thịt mỡ thưng lên rồi ăn cũng rất ngon. Gia vị thấm vào khiến thịt không còn vị béo gây ngán. Vậy nên, thịt thưng ăn hao. Cũng do vậy ngày thường mẹ tôi không dám làm, chỉ có dịp Tết.
Gương mặt thơ: Hữu Kim

Gương mặt thơ: Hữu Kim

(GLO)- Anh từng là bộ đội đóng quân ở An Khê (tỉnh Gia Lai), từ thời ấy, anh đã sinh hoạt với nhóm thơ... Đà Nẵng. Rồi anh chuyển lên Kon Plông làm Phó Chỉ huy trưởng về chính trị của Huyện Đội, nhưng rồi cái tư chất thi sĩ luôn âm ỉ trong anh, khóc đấy, cười đấy. Và vẫn làm thơ. Thế là, cái việc anh được điều về làm Chủ tịch Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Kon Tum rồi trở thành hội viên Hội Nhà văn Việt Nam như là lẽ đương nhiên. Gặp anh, không ai nghĩ người trước mặt mình từng mang quân hàm Thượng tá, mà là một thi sĩ đời... cũ.