Người còn lại từ "buổi xuất quân Tiểu đoàn năm ấy"

Theo dõi Báo Gia Lai trên Google News

Sáng sớm 5-7-1948, tại xã Đại Điền, huyện Thạnh Phú (tỉnh Bến Tre) đã diễn ra một buổi lễ cảm động. Khoảng 1.000 thanh niên với vũ khí thô sơ, không quân trang, quân phục, đã đồng thanh hô vang lời thề: “Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh!”.

Buổi sáng đó về sau được nhắc đến như là “buổi xuất quân” của Tiểu đoàn 307 huyền thoại, anh hùng. Khoảng 1.000 người có mặt trong “buổi xuất quân Tiểu đoàn năm ấy” bây giờ ở Bến Tre chỉ còn mỗi mình ông…

Buổi xuất quân năm ấy

Ngày 4-7 vừa qua, tại xã Đại Điền đã diễn ra lễ kỷ niệm 70 năm Ngày truyền thống Tiểu đoàn 307, đồng thời khánh thành Bia lưu niệm Tiểu đoàn 307 và đón nhận Di tích Văn hóa - Lịch sử cấp tỉnh Tiểu đoàn 307.

 

Ông Sáu Trọng trở về dự cuộc họp mặt 70 năm Ngày truyền thống Tiểu đoàn 307.
Ông Sáu Trọng trở về dự cuộc họp mặt 70 năm Ngày truyền thống Tiểu đoàn 307.

Cách đây 70 năm, vào ngày 5-7-1948, gần 1.000 chiến sĩ Tiểu đoàn 307 đã làm lễ xuất quân với những lời thề như: “Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”, “Người chiến sĩ tiếc gì máu rơi”, “Nguyện một lòng gìn giữ non sông”…

Có hơn 20 cựu chiến binh Tiểu đoàn 307 năm xưa, giờ đều ở tuổi trên dưới 90, từ mọi miền đất nước đã về dự họp mặt. Trong số đó chỉ còn vài ba người trong tổng số gần 1.000 chiến sĩ có mặt trong “buổi xuất quân Tiểu đoàn năm ấy”.

Tôi đã tìm đến thăm ông - người cựu binh duy nhất có mặt trong “Buổi xuất quân Tiểu đoàn năm ấy” - hiện sống ở Bến Tre, trong một ngôi nhà đơn sơ nép mình dưới rặng dừa ở phường Phú Khương, TP.Bến Tre.

Ông có cái tên dễ nhớ - Ngô Thận Trọng (Sáu Trọng). Ông quê ở huyện Mỏ Cày (nay là Mỏ Cày Nam), năm 14 tuổi ông đã thoát ly gia đình về vùng Đồng Tháp Mười (ĐTM) làm giao liên cho Tình báo Khu 8. Ông Trọng kể: “Năm 1948, khi cuộc kháng chiến chống Pháp của ta từ phòng ngự chuyển sang tiến công, lãnh đạo Khu 8 thấy cần có nắm đấm đủ mạnh để tiêu diệt cấp đại đội, tiểu đoàn địch, nên đã thành lập Tiểu đoàn 307 - tiểu đoàn chủ lực đầu tiên của Khu 8 và cả Nam Bộ”.

Lúc ấy Sáu Trọng đang là lính của Tình báo Khu, được điều động về làm cán bộ khung của Tiểu đoàn mới thành lập, dù năm ấy ông mới 16 tuổi. Tiểu đoàn được thành lập ở vùng ĐTM ngày 1.5.1948, nhưng vì nơi đây nước nổi mênh mông, nên Tiểu đoàn phải chuyển quân về Bến Tre khô ráo để “rèn quân” và bổ sung lực lượng trước khi chính thức “xuất quân” đi đánh trận.

Suốt 2 tháng trời, các chiến sĩ được học tập chính trị, kỷ luật quân đội, huấn luyện kỹ năng chiến đấu, chiến thuật tấn công và chống địch càn quét ở cấp tiểu đoàn, diệt đồn bót cấp trung đội, đại đội địch…

“Sáng hôm ấy, gần 1.000 chiến sĩ Tiểu đoàn 307 trang bị vũ khí thô sơ, quần áo ở nhà cho cái nào mặc cái ấy, không có quân trang, đồng phục gì hết, làm lễ xuất quân. Những chiến sĩ tuổi đời còn rất trẻ, người lớn tuổi nhất cũng chỉ khoảng 23 - 25 tuổi, còn tôi lúc đó mới 16 tuổi.

Tôi còn nhớ như in, tại lễ xuất quân, đồng chí Tiểu đoàn trưởng Đỗ Huy Rừa đã thay mặt cán bộ, chiến sĩ đọc những lời thề: “Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”, “Người chiến sĩ tiếc gì máu rơi”, “Nguyện một lòng gìn giữ non sông”, các chiến sĩ hô theo…” - ông Sáu Trọng bồi hồi nhớ lại.

Trận Mộc Hóa, trận La Bang

Sau lễ xuất quân, ông Sáu Trọng cùng đồng đội vượt sông Hàm Luông, sông Tiền về vùng ĐTM chuẩn bị cho trận đánh “khai trương”. Lúc ấy, huyện Mộc Hóa (tỉnh Long An) có vị trí chiến lược vì là trung tâm vùng ĐTM, nối liền với chiến trường Campuchia chống kẻ thù chung, là hành lang kết nối với Khu 7 và Khu 9. Nếu làm chủ Mộc Hóa, căn cứ ĐTM (nơi đặt căn cứ của Xứ ủy, Bộ Tư lệnh Nam bộ, Khu 8) sẽ vững mạnh lên nhiều, làm thay đổi cục diện chiến trường.

Nhiệm vụ nặng nề và vinh quang đó được giao cho Tiểu đoàn 307 (làm chủ công) phối hợp với một số đơn vị bạn. Chính anh trinh sát Sáu Trọng đã vượt qua mấy lớp kẽm gai vào tận đồn Mộc Hóa vẽ sơ đồ cho trận đánh.

Sau 2 ngày nổ súng tấn công đồn Mộc Hóa, ngày 18.8.1948 Tiểu đoàn 307 chiếm được đồn, tiêu diệt tiểu đoàn địch với khoảng 300 quân, bắt 6 tù binh, thu trên 300 súng, trong đó có cối 60 ly, trung liên, đại liên, là “hàng hiếm” thời bấy giờ.

Huyện Mộc Hóa hoàn toàn giải phóng, căn cứ ĐTM được mở rộng, nối thông với Khu 7 và Khu 9, kết nối chiến trường Việt Nam và Campuchia. Với chiến thắng trận Mộc Hóa, Tiểu đoàn 307 đã có bước khởi đầu rất ấn tượng, tạo đà cho Tiểu đoàn 307 anh hùng lẫy lừng về sau.

Sau trận đánh Mộc Hóa, uy danh của Tiểu đoàn 307 nổi như cồn, đối phương nghe tới phải khiếp sợ. Từ lợi thế đó, sau đó Tiểu đoàn 307 đã dễ dàng “ăn gỏi” trong những trận đánh nhỏ cấp trung, đại đội. Thử thách lớn tiếp theo là trận La Bang ở Trà Vinh.

Lúc đó Pháp tăng cường bình định ở vùng có nhiều đồng bào Khmer ở Trà Vinh, Tiểu đoàn 307 nhận nhiệm vụ phá tan chương trình bình định của đối phương và đồn La Bang được chọn làm nơi “so găng”. Cũng giống như trận Mộc Hóa, Tiểu đoàn 307 đã kết thúc trận La Bang một cách chóng vánh, tiêu diệt hàng trăm tên địch, bắt sống nhiều tù binh Âu - Phi, trong đó có 7 sĩ quan chỉ huy.

Ông Sáu Trọng nhẩm tính, từ ngày xuất quân cho tới khi kết thúc cuộc chiến chống Pháp, Tiểu đoàn 307 đã chiến đấu trên 110 trận lớn nhỏ. Trong đó có 3 trận đánh nổi tiếng là: Trận Mộc Hóa ở Long An, trận La Bang ở Trà Vinh và trận Tháp Mười ở Đồng Tháp.

Sau những trận thắng vang dội, lãnh đạo Khu 8 đã phát động trong văn nghệ sĩ sáng tác về Tiểu đoàn 307. Bài thơ “Tiểu đoàn 307” của nhà thơ Nguyễn Bính đã ra đời trong hoàn cảnh ấy, được nhạc sĩ Nguyễn Hữu Trí phổ nhạc, nhanh chóng nổi tiếng, phổ biến khắp cả nước cho đến ngày nay. Trong bài hát có đoạn “… Buổi xuất quân Tiểu đoàn năm ấy/Cả Tiểu đoàn thề dưới Sao vàng/Người chiến sĩ tiếc gì máu rơi/…/Đã chiến đấu bao năm ròng chiến đấu/Với bao thành tích huy hoàng/Trận Tháp Mười, trận Mộc Hóa/Vang tiếng đồn với trận La Bang…”.

Hiệp định Giơnevơ được ký kết, chàng thanh niên mới 22 tuổi đời mà đã có 8 tuổi quân Ngô Thận Trọng đã “thận trọng” bước xuống tàu đậu ở cửa biển Sông Đốc (Cà Mau) cùng đồng đội lên đường đi “tập kết”. Trên đất Bắc, ông đã học bổ túc hết bậc trung học.

Năm 1960, ông cùng nhiều đồng đội khẩn thiết xin trở về Nam chiến đấu giải phóng quê hương, nhưng cuối cùng không được đi. Không về Nam chiến đấu được, ông thi vào Đại học Bách khoa. Ra trường, ông về công tác ở Bộ Thủy lợi và lập gia đình với cô bạn “đồng môn” thời học đại học.

Đầu năm 1975, ông được điều sang Ban Thống nhất Trung ương, vượt Trường Sơn về Nam bằng cách tự lái chiếc xe Uoat. Trưa ngày 30-4-1975, ông lái chiếc Uoat theo QL13 từ Lộc Ninh về tiếp quản Sài Gòn đã hoàn toàn giải phóng.

Người chiến sĩ tiếc gì máu rơi

Trong bài hát nổi tiếng “Tiểu đoàn 307”, có một câu làm ông Sáu Trọng cứ băn khoăn, đó là: “Trận Tháp Mười, trận Mộc Hóa, vang tiếng đồn là trận La Bang”. Theo ý ông, thứ tự trận đánh phải là: Trận Mộc Hóa (tháng 8.1948), trận Lang Bang (tháng 12-1948) rồi mới tới trận Tháp Mười (tháng 6-1949). Nhưng có lẽ do trận Tháp Mười là dữ dội nhất, ác liệt nhất nên tác giả bài hát muốn đưa lên đầu.

Theo ông Sáu Trọng, do bị thua đau trận Mộc Hóa, dẫn đến khu căn cứ ĐTM của ta mở rộng, nên đối phương dốc toàn lực, đưa cả vạn quân càn vào ĐTM quyết tiêu diệt cơ quan đầu não của Khu 8 và Nam Bộ.

Hơn 1 tuần lễ càn vào ĐTM với cả thủy, lục, không quân và xe lội nước nhưng đối phương không chiếm được trận địa mà còn bị đánh tơi bời, thiệt hại nặng nên phải rút lui. Và chúng đã bị Tiểu đoàn 307 chặn đánh tơi bời. “Lúc đó tôi là trinh sát của Tiểu đoàn, luôn có mặt bên Tiểu đoàn trưởng Đỗ Huy Rừa.

Khi địch rút ra lối Chà Là thì bị Tiểu đoàn 307 chặn đánh, xác địch phơi ngổn ngang. Báo Thần Chung sau đó đăng tin, địch đã bị diệt 1.300 tên ở ĐTM. Về phía ta cũng hy sinh nhiều, anh Rừa Tiểu đoàn trưởng bị trúng đạn hy sinh”.

Theo ông Sáu Trọng, sau hàng trăm lần “vào sinh ra tử”, Tiểu đoàn 307 đã nhiều lần bổ sung, thay quân. Những chiến sĩ có mặt trong “buổi xuất quân” ngày 5-7-1948 cho đến cuối cuộc chiến chống Pháp vì vậy chẳng còn mấy người. Trải qua cuộc kháng chiến chống Mỹ, rồi tuổi tác ngày càng lớn, giờ cựu binh Tiểu đoàn 307 như “lá mùa thu”.

Vẫn với giọng đầy cảm xúc, ông nói: “Đến cuối cuộc chiến, tôi chuyển sang “Tình nguyện quân” ở Campuchia, nhờ vậy mà còn sống, chứ ở lại Tiểu đoàn chắc cũng “da ngựa bọc thây” như bao đồng đội rồi. Bây giờ cựu binh Tiểu đoàn 307 chúng tôi 10 năm họp mặt 1 lần. Lần họp mặt năm 2008 còn được hơn 60 người, còn lần họp mặt năm 2018 chỉ còn hơn 20 người. Có lẽ bây giờ một vài năm nên họp mặt 1 lần, chứ đợi 10 năm sau, sợ chẳng còn ai!”.

Nguyễn Phấn Đấu/laodong

Có thể bạn quan tâm

Xây dựng thế trận lòng dân nơi tà đạo "Hà Mòn" đi qua - Kỳ 3: Gieo lại niềm tin trên đất cũ

E-magazine Xây dựng thế trận lòng dân nơi tà đạo "Hà Mòn" đi qua - Kỳ 3: Gieo lại niềm tin trên đất cũ

(GLO)- Khi tà đạo “Hà Mòn” tan biến, trên những buôn làng ở xã Hra, xã Đak Pơ, niềm tin làm giàu đang được gieo lại từ chính mảnh đất cũ. Nhờ sự vào cuộc của cấp ủy, chính quyền, lực lượng chức năng cùng ý chí vươn lên của người dân, những vùng đất này đang chuyển mình mạnh mẽ. 

Xây thế trận lòng dân từ sâu rễ bền gốc nơi tà đạo Hà Mòn đi qua

E-magazine Xây dựng thế trận lòng dân nơi tà đạo Hà Mòn đi qua - Kỳ 2: Tỉnh ngộ sau chuỗi ngày tối tăm

(GLO)- Phía sau những lời hứa hẹn mơ hồ về một cuộc sống sung túc không cần lao động. Ở một số buôn làng, những mái nhà vốn yên ấm bị xáo trộn. Chỉ khi cấp ủy, chính quyền, lực lượng chức năng kiên trì vận động, nhiều người mới dần nhận ra sự thật, tỉnh ngộ và quay về với cuộc sống bình thường.

Xây dựng thế trận lòng dân nơi tà đạo “Hà Mòn” đi qua - Kỳ 1: Nơi bóng tối tà đạo “Hà Mòn” đi qua

E-magazine Xây dựng thế trận lòng dân nơi tà đạo “Hà Mòn” đi qua - Kỳ 1: Nơi bóng tối tà đạo “Hà Mòn” đi qua

(GLO)- Có một thời, ở những ngôi làng Bahnar như Kret Krot (xã Hra), Kuk Kôn, Kuk Đak (xã Đak Pơ), nhịp sống bình yên bỗng chùng xuống. Tà đạo Hà Mòn như một “cơn gió độc” quét qua, để lại phía sau sự im ắng nặng nề, len lỏi vào từng mái nhà, khiến buôn làng trở nên khép kín, u ám.

Thúng chai lên phố

Thúng chai lên phố

Nghề đan thuyền thúng bằng tre (thúng chai) dùng để đi biển đánh bắt hải sản sau hàng trăm năm giờ đang dần mai một. Những ngư dân miền Trung vẫn âm thầm bám nghề bằng tình yêu mưa nắng đời người, và ngày càng nhiều những chiếc thúng chai rời biển về phố làm du lịch.

Những chuyện tình xuyên biên giới ở Ia O

Những chuyện tình xuyên biên giới ở Ia O

(GLO)- Trên vùng biên Ia O (tỉnh Gia Lai), dòng Pô Cô vừa là ranh giới tự nhiên, vừa là nhịp cầu kết nối lương duyên. Từ những lần qua lại thăm thân, dự lễ hội, nhiều mối tình nảy nở, hình thành nên những mái ấm xuyên biên giới bình dị, bền bỉ, góp phần dệt nên diện mạo riêng nơi phên giậu Tổ quốc.

Làng bồng bềnh trên dòng Pô Kô

Làng bồng bềnh trên dòng Pô Kô

Giữa miền biên viễn phía tây Gia Lai, trên dòng Pô Kô hùng vĩ, hàng chục gia đình từ Tây Nam bộ tìm đến lập nghiệp, dựng nên những căn nhà nổi chông chênh giữa sóng nước. Cuộc mưu sinh lặng lẽ thể hiện nghị lực của con người, ý chí bám trụ và khát vọng sống chan hòa cùng sông nước.

Bấp bênh xóm chài vùng biên

Bấp bênh xóm chài vùng biên

(GLO)- Xóm chài trên mặt hồ thủy điện Sê San (làng Tăng, xã Ia O) hiện có 17 hộ với 58 nhân khẩu, đến từ các tỉnh ở miền Đông Nam Bộ và Tây Nam Bộ. Không đất ở, thiếu giấy tờ tùy thân, họ tự dựng nhà bè, bám lấy con nước để mưu sinh.

Bám rừng giữ “báu vật” giáng hương

Bám rừng giữ “báu vật” giáng hương

(GLO)- Ẩn giữa rừng sâu xã Krong (tỉnh Gia Lai), những căn lán nhỏ được dựng ngay dưới gốc giáng hương cổ thụ. Đó là nơi lực lượng bảo vệ rừng ăn ngủ, thay nhau canh giữ từng cây hương quý - những “báu vật” của đại ngàn.

Bộ đội Biên phòng lan tỏa không khí bầu cử nơi biên giới

Bộ đội Biên phòng lan tỏa không khí ngày hội lớn của toàn dân nơi biên giới

(GLO)- Những ngày cận kề cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026-2031, cán bộ, chiến sĩ Đồn Biên phòng Ia Mơ (tỉnh Gia Lai) phối hợp với chính quyền, già làng, người uy tín đến từng làng tuyên truyền, vận động bà con sẵn sàng tham gia ngày hội lớn của toàn dân.

Đội SOS Long Hải: Giữ bình yên cho những cung đường

Đội SOS Long Hải: Giữ bình yên cho những cung đường

Khi phố xá đã lên đèn và nhiều gia đình yên giấc, trên những tuyến đường thuộc xã Long Hải (TPHCM) vẫn có những ánh đèn xe lặng lẽ di chuyển. Đó là ánh đèn của Đội SOS Long Hải - nhóm thanh niên tình nguyện đã suốt 7 năm qua hỗ trợ người dân gặp sự cố giao thông trong đêm.

Đêm đập trống dưới ánh trăng rừng

Đêm đập trống dưới ánh trăng rừng

Giữa vùng lõi của Vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng, nơi núi đá vôi dựng đứng như những bức tường thành và rừng già nối tiếp đến tận biên Việt - Lào, có một lễ hội mà mỗi nhịp trống vang lên dường như làm nghiêng ngả cả đại ngàn: Lễ hội Đập trống của người Ma Coong.

'Rừng thiêng' giữa đại ngàn

'Rừng thiêng' giữa đại ngàn

Giữa đại ngàn Trường Sơn hùng vĩ, nơi mây trắng quấn quýt những đỉnh núi của vùng cao Đà Nẵng, có một cánh rừng không chỉ xanh bởi lá, mà còn xanh bởi ký ức. Người dân gọi đó là 'rừng bác Năm Công'.

Cán bộ trại giam động viên, chia sẻ với phạm nhân.

Tình người sau cánh cổng trại giam

(GLO)- Từ những câu chuyện rất thật của người trong cuộc, có thể thấy tính nhân văn trong công tác giáo dục, cải tạo phạm nhân tại Trại tạm giam số 1, Công an tỉnh Gia Lai. Đó là nơi cán bộ, chiến sĩ đang kiên trì cảm hóa những người lầm lỗi bằng trách nhiệm và lòng nhân ái.

Vị linh mục hiến kế chống Pháp

Vị linh mục hiến kế chống Pháp

(GLO)- “Chuyện giặc Pháp xâm lăng ngang ngược, xin ra lịnh cho người có đạo giúp nước lập công, ai phản nghịch sẽ giết cả họ. Kẻ có đạo dù có thịt nát xương tan cũng cố báo đền ơn nước, quyết chẳng hai lòng”.

Ấm áp những ngôi nhà tái định cư

Ấm áp những ngôi nhà tái định cư

(GLO)- Về thăm những khu tái định cư vùng thiên tai trên địa bàn tỉnh Gia Lai, chúng tôi cảm nhận được mùa xuân ấm áp đang về cùng với sắc hoa tươi thắm, khung cảnh sản xuất, sinh hoạt nhộn nhịp đang định hình trên vùng đất mới.

Ngôi làng Bahnar bị "bỏ quên" giữa núi rừng.

Ngôi làng Bahnar bị "bỏ quên" giữa núi rừng

(GLO)- Một ngôi làng Bahnar không người ở, bị "bỏ quên" giữa núi rừng Tây Nguyên nhưng vẫn hấp dẫn nhiều du khách ghé thăm nhờ vẻ đẹp nguyên sơ của thiên nhiên và kiến trúc nhà truyền thống. Đó là làng Kon Sơ Lăl cũ (xã Ia Khươl, tỉnh Gia Lai).

null