(GLO)- “Anh Ksor Ní là người đồng chí thân thiết của tôi trong suốt những tháng năm kháng chiến đến tận lúc về già. Tâm huyết cả đời anh đều dành cho cách mạng, cho quê hương; với anh em lại hết sức cởi mở và hòa đồng”-nguyên Phó Bí thư Tỉnh ủy Gia Lai Ngô Thành bộc bạch.
Tôi tìm đến nhà gặp ông Ngô Thành vào một buổi trưa đầu năm mới. Sau khi nghe vị khách trình bày lý do cho chuyến ghé thăm đường đột không hẹn trước, ông Thành bỗng khựng lại đôi phút, nét mặt đổi sắc. Thì ra, ông vẫn chưa hay tin người đồng chí thân thiết của mình-Ksor Ní-vừa qua đời ở tuổi 95 vào rạng sáng 15-2. Rồi dường như hiểu rõ sinh-lão-bệnh-tử vốn đã là quy luật, ông Thành ngồi xuống, kể với tôi bằng chất giọng đượm buồn: “Vài lần trước đến thăm, anh Ksor Ní đã không còn nhận ra tôi là ai nữa. Hôm 29 tháng Chạp, tôi cũng có ghé nhà chúc Tết, thấy bệnh tình anh Ní có trở nặng hơn nhưng không nghĩ anh ấy lại ra đi nhanh như thế”.
Ông Ksor Ní và vợ. Ảnh: Nguyễn Văn Chiến
Chậm rãi lật giở từng trang ký ức về người đồng chí, người anh từng cùng mình kề vai sát cánh, ông Ngô Thành tâm sự, ông biết đến cái tên Ksor Ní ngay từ những ngày đầu mới lên Gia Lai nhận nhiệm vụ công tác (năm 1951). Thế nhưng mãi đến ngoài những năm 60, ông Thành mới có cơ hội được gặp và làm việc trực tiếp với ông Ní. “Ấn tượng đầu tiên của tôi về Ksor Ní chính là phong thái lãnh đạo của anh. Có thể nói anh Ní là một trí thức Jrai tiêu biểu lúc bấy giờ với học vấn cao, kiến thức và hiểu biết về công tác cách mạng rất sâu rộng. Tuy vậy, anh không bao giờ thể hiện bản thân mình trước mặt anh em, đồng chí mà lúc nào cũng niềm nở, chân thành. Mặt khác, anh Ní là một cán bộ lãnh đạo tràn đầy nhiệt huyết với cách mạng, đất nước. Nhờ lợi thế về tiếng địa phương, anh giúp các đồng chí khác trong bộ máy lãnh đạo tỉnh nắm cụ thể, rõ ràng về tình hình cơ sở, nhất là tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc”-ông Thành chia sẻ.
Kể từ khi ông Ngô Thành và ông Ksor Ní đồng hành công tác trong cùng một cơ quan thì mối quan hệ giữa hai người trở nên thân thiết hơn. Ấy là năm 1968, ông Ksor Ní được bầu làm Chủ tịch Ủy ban Nhân dân cách mạng tỉnh Gia Lai kiêm Bí thư Đảng đoàn chính quyền phụ trách chính quyền, Chỉ huy trưởng Tiền phương chiến dịch Xuân 1968; còn ông Ngô Thành giữ chức Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân cách mạng tỉnh. Kể từ thời điểm đó, hai ông luôn gắn kết mật thiết với nhau trong lãnh đạo, chỉ đạo, thống nhất đưa ra các chủ trương, quyết định đúng đắn, góp phần cùng quân và dân tỉnh nhà giành lấy những thắng lợi vẻ vang.
Và trong quá trình công tác, có 2 sự kiện khiến ông Ngô Thành nhớ nhất và theo ông, nó là minh chứng rõ nét cho sự thấu hiểu, thống nhất trong tư tưởng và chỉ đạo giữa ông và ông Ksor Ní. Đầu tiên là vấn đề trưng cầu ý kiến về việc tìm gỗ quý để xây lăng Bác Hồ vào đầu năm 1974. Ông Ksor Ní bấy giờ là Phó Bí thư Tỉnh ủy tổ chức cuộc họp toàn thể cán bộ (trong đó có ông Ngô Thành) và nhân dân nhằm trưng cầu ý kiến về việc tìm gỗ quý để xây lăng Bác Hồ. Cuối cùng mọi người thống nhất chọn cây gỗ trắc, vì đây là loại gỗ rất quý hiếm, được mệnh danh là “sắt không gỉ”. Ông Ksor Ní cũng là người chặt nhát rìu đầu tiên làm lễ phát động phong trào tìm trắc xây lăng Bác. Công việc tìm kiếm gỗ, chặt hạ gỗ khó khăn bao nhiêu thì quá trình kéo gỗ từ rừng Sơn Lang ra đến Trạm Lập (Kbang) để đưa lên xe vận chuyển ra Hà Nội lại càng vất vả bấy nhiêu. Dù phải mất ròng rã hơn một tháng trời nhưng cả cán bộ và nhân dân tỉnh nhà ai cũng vui vì thể hiện được tấm lòng của người dân Tây Nguyên dành cho vị lãnh tụ kính yêu.
Ông Ngô Thành xem lại những dòng chữ viết về ông Ksor Ní trong cuốn Lịch sử Đảng bộ tỉnh Gia Lai. Ảnh: Hồng Thi
“Tháng 1-1975, Trung ương có chủ trương mở chiến dịch lớn ở Tây Nguyên, trọng tâm là Buôn Ma Thuột (Đak Lak), tôi được đồng chí Ksor Ní khi ấy là Bí thư Tỉnh ủy phân công xuống chỉ đạo giải phóng vùng An Khê trước. Tuy nhiên, cục diện chiến tranh lại có sự thay đổi, sau khi giải phóng xong Buôn Ma Thuột, ta tiến sang giải phóng Pleiku. Việc liên lạc giữa tôi và anh Ní chỉ thông qua lực lượng cơ yếu (mật mã) với 2 cái đài 15W và trong ngày chỉ thông tin với nhau một vài đoạn hội thoại để nắm được tình hình quân địch, quân ta; âm mưu thủ đoạn của địch; cách sử dụng lực lượng của ta như thế nào cho hiệu quả; việc phối hợp chiến đấu giữa điểm Pleiku và diện An Khê ra sao… Ngày 17-3-1975, Pleiku được hoàn toàn giải phóng, anh Ksor Ní liền liên lạc ngay cho tôi để tập trung lực lượng giải phóng An Khê vào ngày 23-3”-nguyên Phó Bí thư Tỉnh ủy Ngô Thành nhớ lại.
Nhiệm vụ hoàn thành, ông Ngô Thành tức tốc trở lại Pleiku, cùng ông Ksor Ní và lãnh đạo tỉnh bàn cách giải quyết hậu quả của chiến tranh, trong đó có 3 vấn đề lớn: giáo dục, cải tạo khoảng 16.000 lính ngụy và 14.000 công nhân viên ngụy quân, ngụy quyền ra trình diện; cứu đói người dân chạy nạn trên đường 7; huy động lực lượng, xe chở bộ đội, vũ khí xuống trợ giúp Nha Trang, Phú Yên, vùng Đông Nam bộ… tiếp tục giải phóng. Giai đoạn sau này, hai ông lại song hành cùng với những vị lãnh đạo tỉnh khác, dồn sức tập trung dẹp quân Pôn Pốt tràn qua Đức Cơ suốt 1 tháng trời và đánh đuổi FULRO hơn một thập niên. Cho đến khi về hưu, hai người vẫn thường xuyên qua lại thăm hỏi, động viên nhau trong cuộc sống; thỉnh thoảng lại nhắc nhớ về những tháng ngày “sướng khổ có nhau” hay trao đổi về tình hình phát triển kinh tế-xã hội của tỉnh nhà. “Không chỉ bản thân Ksor Ní mà các con của anh cũng tiếp nối truyền thống của gia đình, đều một lòng theo cách mạng. Dẫu biết rằng sự ra đi của anh là quy luật của tạo hóa, nhưng bản thân tôi và những người yêu quý anh đều cảm thấy tiếc thương. Tôi sẽ mãi nhớ về anh, một người đồng chí đầy nhiệt tâm và dành trọn đời mình cho cách mạng”-ông Ngô Thành bộc bạch.
Mặt trời đã đứng bóng tự lúc nào. Tiễn tôi ra về, ông Thành cũng lo sửa soạn đến nhà ông Ksor Ní để thắp nén hương tiễn biệt người anh đáng kính về nơi an nghỉ cuối cùng. Tình bạn, tình đồng chí chân tình giữa hai ông khiến những người trẻ như tôi cảm thấy vô cùng khâm phục và trân quý.
Đồng chí Ksor Ní (tên thường gọi là Ama H’Nhan), sinh năm 1925 tại bôn Tham (xã Ia Trok, huyện Ia Pa, Gia Lai). Ông là cán bộ tiền khởi nghĩa, nguyên Bí thư Tỉnh ủy Gia Lai, nguyên Phó Bí thư Tỉnh ủy, nguyên Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Gia Lai-Kon Tum. Trong quá trình hoạt động cách mạng và công tác, đồng chí đã vinh dự được tặng thưởng nhiều huân, huy chương cao quý của Đảng và Nhà nước như: Huân chương Kháng chiến chống Pháp hạng nhì, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng nhất, Huy hiệu 70 năm tuổi Đảng, Danh hiệu “Cán bộ tiền khởi nghĩa”, nhiều huân, huy chương, bằng khen và các hình thức khen thưởng khác. Sau thời gian lâm bệnh, mặc dù được các cơ quan, địa phương, gia đình và các y-bác sĩ tận tình chăm sóc, cứu chữa nhưng do bệnh nặng, tuổi cao sức yếu đồng chí đã qua đời vào rạng sáng ngày 15-2-2019, hưởng thọ 95 tuổi.
(GLO)- Suốt 14 năm gắn bó với Trung tâm Cứu hộ, Bảo tồn và Phát triển sinh vật thuộc Vườn quốc gia Kon Ka Kinh (xã Ayun, tỉnh Gia Lai), hai nữ kỹ sư Mã Thị Uyên và Ðặng Thị Thiết đã chăm sóc, cứu chữa hàng trăm cá thể động vật hoang dã trước khi đưa chúng trở về rừng.
(GLO)- Hơn nửa thế kỷ trôi qua, dòng suối Hội Phú đã đi qua những cây cầu ván chông chênh, những khu vườn, xóm nhỏ, rồi có lúc trở thành “dòng nước đen” giữa lòng phố núi Pleiku. Sau 6 năm công trường phủ bụi đỏ, một tuyến kè được hình thành.
Từng có gần 400 hộ làm nghề, gốm Hương Canh (xã Bình Nguyên, tỉnh Phú Thọ) nay chỉ còn 4 hộ bền bỉ giữ lửa cho nghề gốm cổ. Được tạo nên từ nguồn đất trầm tích đặc biệt của địa phương, dòng gốm sành không men đang đối mặt với những khó khăn về đầu ra và nguy cơ thiếu người kế nghiệp.
(GLO)- Sau khi từng bước khơi thông nguồn lực, mở rộng không gian sản xuất và chuẩn hóa vùng nguyên liệu, nông nghiệp Gia Lai đang đứng trước yêu cầu tạo động lực mới.
(GLO)- Giữa sân trường, Thượng úy So Minh Sự - giáo viên Khoa Quân sự kiêm lớp trưởng lớp 6/2 - nhẹ nhàng nhắc học trò: “Dây giày bị tuột rồi, em buộc lại cho cẩn thận, kẻo ngã”.
Thay vì cuốn vào cuộc tranh luận sâm Ngọc Linh và sâm Lai Châu loại nào giá trị hơn, đã đến lúc chúng ta cần nhìn nhận mỗi loại sâm có một lợi thế riêng để định vị sản phẩm, đa dạng hóa giá trị và xây dựng thương hiệu quốc gia.
Không để người dân vất vả đưa con đến trạm y tế, vào ngày 16 hằng tháng, cán bộ y tế xã vùng xa tỉnh Đắk Lắk vượt hơn 20km đường rừng đều đặn mang vắc xin vào tận buôn.
Ở một số bản làng miền núi Quảng Ngãi, hủ tục nghi kỵ “cầm đồ thuốc độc” vẫn âm ỉ tồn tại, len vào những mâu thuẫn đời thường, những cơn bệnh chưa được lý giải bằng khoa học. Từ một lời phán của thầy cúng, hàng xóm có thể thành kẻ thù, người vô tội bị cô lập, đánh đập, thậm chí mất mạng.
(GLO)- Gần một tháng sau lễ khai giảng năm học 2026 - 2027, thầy và trò tại 7 trường phổ thông nội trú Tiểu học và THCS trên tuyến biên giới của tỉnh Gia Lai đang từng bước ổn định nền nếp dạy học.
(GLO)- L.T.S: “Những ngày ở xứ Kim Chi” là ghi chép của tác giả Đoàn Minh Phụng trong hành trình qua Busan, Jeonju và Seoul. Hơn một chuyến đi, loạt bài còn gợi mở những suy ngẫm về cách người Hàn gìn giữ văn hóa, tổ chức du lịch, xây dựng nếp sống văn minh và mở rộng giao lưu với Việt Nam.
(GLO)- Những ngày đầu thu, khi cái nắng miền Trung đã bớt gay gắt, những cơn mưa bắt đầu ghé qua nhiều hơn, đất trời xứ An Nhơn cũng dịu lại. Lúc đầy lúc vơi, sông Côn vẫn lặng lẽ chảy qua những xóm làng, mang theo phù sa và câu chuyện của một vùng đất từng là kinh đô.
(GLO)- Ở nơi dòng Lại Giang khép lại hành trình để hòa vào Biển Ðông, sông - đồng - rừng - biển cùng hiện diện trong một không gian sống đặc biệt. Ðó là vùng đất Hoài Nhơn Ðông.
Vị phở, quýt Lạng Sơn, me… đã bước vào chocolate Việt thế nào? Phía sau những hương vị lạ ấy là một bếp trưởng người Pháp cùng đội bếp toàn người Việt.
Sau gần 10 năm thành lập, mãi đến đầu năm 1968, bộ đội Tăng thiết giáp mới chính thức tham gia chiến đấu trận đầu tiên tại chiến trường miền Nam và bằng loại xe tăng bơi nước PT-76, chứ không phải xe tăng T-54 thông dụng.
Mỗi lần nấu cơm cho gia đình, chị Trương Thị Phượng lại chuẩn bị thêm một, hai suất. Hôm nay, trong những chiếc hộp được xếp ngay ngắn là cơm trắng, khoai tây xào, gà xào và canh nóng. Chị chụp lại phần cơm, đăng lên nhóm “Cho tặng đồ miễn phí tại Hà Nội”, rồi chờ người cần đến nhận.
Từ cậu bé 16 tuổi trốn nhà đi làm du kích đến cương vị Chỉ huy trưởng Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh Bạc Liêu (cũ), thiếu tướng Hồ Khải Hoàng đã đi qua những năm tháng chiến tranh bằng bản lĩnh, sự gan dạ và ý chí của người lính.
Hơn 16 năm gắn bó với Vườn quốc gia Chư Yang Sin, Hoàng Thị Hương là một trong số ít nữ kiểm lâm của đơn vị. Chị gắn bó với nghề không để chứng minh mình mạnh mẽ, mà bởi đó là công việc chị đã chọn.
(GLO)- Hơn 41 năm có mặt trên tuyến biên giới phía Tây của Tổ quốc, Binh đoàn 15 đã biến vùng đất cằn cỗi, đầy tàn tích chiến tranh thành vườn cao su, cà phê bạt ngàn.
(GLO)- Bên dòng sông Côn, đoạn chảy qua thôn Kiên Mỹ (xã Tây Sơn, tỉnh Gia Lai) từ lâu đã hình thành những xóm nghề gắn với đời sống người dân như làm đậu khuôn, giá đỗ, bún, bánh tráng, các loại bánh truyền thống, trồng rau...
(GLO)- Do di chứng chiến tranh, ông Lưu Thế Quý (97 tuổi, ở thôn Phú Cường, xã Chư Sê, tỉnh Gia Lai) - cựu chiến sĩ tham gia Chiến dịch Điện Biên Phủ - gần như không còn nghe được.
Bán đảo Cam Ranh nắng gió có một khu đô thị đặc biệt mang tên Khu đô thị Căn cứ quân sự Cam Ranh (Khánh Hòa). Sau những ô cửa bình yên nơi đây là mái ấm của các gia đình quân nhân, trong đó có những người vợ đang ngày ngày thay chồng chăm lo tổ ấm, khi các anh làm nhiệm vụ nơi đầu sóng Trường Sa.
Tôi gọi cha tôi bằng 'thầy' vì ông cụ muốn tôi nhớ lại gốc gác của mình từ một làng nào đó ở đất Nghệ An. Người Bắc hay gọi cha là thầy, mẹ là u. Bên nội tôi là người di dân, vào Quảng Ngãi từ mấy trăm năm trước.
(GLO)- Chiến tranh đã lùi xa hơn nửa thế kỷ. Những người trực tiếp đi qua những năm tháng khốc liệt ấy, nay đều đã ở tuổi xế chiều. Nhưng thời gian không chờ đợi ai. Khi những nhân chứng dần vắng bóng, cũng là lúc nhiều mảnh ghép ký ức về lịch sử dân tộc không còn cơ hội được kể lại.
(GLO)- Trước đây, Lộ Diêu (phường Hoài Nhơn Đông) như một thế giới tách biệt với bên ngoài. Ðặc trưng địa hình và cuộc sống của người dân nơi đây được đúc kết qua câu: “Lộ Diêu một biển ba đèo - Gian nan đã vượt, khó nghèo đã qua”.