“Bắt mạch” thời tiết trên biển

Theo dõi Báo Gia Lai trên Google News

“0091-9775-9891-0281… nghe được chuyển tiếp… 3007-0400-92… 580-10”. Những dãy số được quan trắc viên khí tượng Nguyễn Hữu Phương đọc to, rõ ràng qua chiếc điện thoại Nokia đen trắng đời cổ.

Ở đầu bên kia, nhân viên tiếp nhận thông tin ở Trung tâm Dự báo khí tượng thủy văn tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu chăm chú ghi chép.

bat-mach-thoi-tiet-tren-bien.jpg
Anh Phan Thành Thật, quan trắc viên khí tượng Trạm Khí tượng thủy văn DK1/7, đang kiểm tra thiết bị đo khí tượng thủy văn.

Những con số khô khan ấy là số liệu quý giá để phục vụ công tác dự báo thời tiết trên biển, là mắt lưới quan trọng trong mạng dự báo thời tiết toàn cầu, giúp ngư dân, tàu thuyền và các công trình trên biển vượt qua giông bão an toàn. Từng ngày, từng giờ, các nhân viên quan trắc khí tượng nơi đây lặng thầm ghi lại từng hơi thở của biển, đo từng nhịp đập của trời để gửi về đất liền những thông số chính xác nhất.

Sống cùng sóng, thở cùng gió

Trạm khí tượng thủy văn đặt tại nhà giàn DK1/7 (bãi cạn Huyền Trân, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu) từ năm 1991, thuộc Đài Khí tượng thủy văn khu vực Nam Bộ, là trạm duy nhất trong khu vực, cung cấp số liệu thời tiết và hải văn cho cả Việt Nam và quốc tế, làm cơ sở dự báo thời tiết, cảnh báo thiên tai, biến đổi khí hậu.

Anh Đỗ Văn Bằng, cựu quan trắc viên đã nghỉ hưu, chia sẻ: “Đây là trạm khí tượng hải văn thì nó có hai mảng. Khí tượng thì theo dõi toàn bộ các hiện tượng thời tiết và thông số về mây, mưa, nắng, gió, nhiệt độ, khí áp. Còn về hải văn thì về sóng và thủy triều, độ mặn nước biển và nhiệt độ. Có những thông số này thì công tác dự báo chính xác hơn”.

Cứ bốn giờ một lần, bất kể ngày đêm, mưa nắng, các quan trắc viên phải “trằn mình” thu thập số liệu để chuyển về Trung tâm Khí tượng thủy văn khu vực. Vào mùa mưa bão, tần suất chuyển tin tăng lên 30 phút/lần. Công việc của những người “bắt mạch” thời tiết trên biển là chuỗi ngày dài thầm lặng, không ngừng nghỉ. “Những con số này là “mạch máu” của mạng lưới dự báo, giúp tàu thuyền trong và ngoài nước tránh bão tố, bảo vệ ngư dân, hỗ trợ các công trình kinh tế biển và nghiên cứu khoa học”, anh Bằng tự hào.

Do đặc thù công việc và biên chế thường xuyên thiếu hụt, trạm chỉ có hai nhân viên thay phiên nhau thực hiện nhiệm vụ từ 6-8 tháng mới về đất liền một lần. Cũng có người đón hai cái Tết ở biển mới về nghỉ phép chừng một tháng rồi lại ra trực lại. Giữa mênh mông biển cả, những con người ấy ngày ngày, giờ giờ cặm cụi với mây trời, với từng con sóng, từng giọt nước biển, để rồi biến chúng thành những con số, những bản tin cảnh báo. Công việc hằng ngày tưởng chừng đơn giản nhưng kể ra lại lắm nỗi nhọc nhằn.

Lặng thầm cho những mùa biển bình yên

Sáng sớm, trời mưa không ngớt, biển động dữ dội, gió rít từng hồi, anh Nguyễn Hữu Phương, một quan trắc viên khí tượng sinh năm 1988, quê Yên Bái, vẫn canh đồng hồ, mặc áo mưa, nắm chặt tay vịn cầu thang ướt sũng, từng bước leo lên nóc nhà giàn. Mưa quất vào mặt, cầu thang trơn trượt, nhưng anh vẫn cẩn thận kiểm tra các thiết bị đo, ghi lại thông số. “Nếu là ở đất liền thì mọi việc sẽ dễ dàng hơn. Còn giữa biển khơi mênh mông thế này, gió giật có thể hất văng mình xuống biển. Nhưng mà nếu không có số liệu để dự báo chính xác thì thiệt hại lớn lắm. Mình không làm thì lấy đâu ra số liệu!”, anh nói, giọng đầy quyết tâm.

Quả thật, trực tiếp chứng kiến các anh thực hiện nhiệm vụ trong mưa bão mới thấy, công việc “bắt mạch” thời tiết không chỉ đòi hỏi sự tỉ mỉ, chính xác mà còn phải có lòng dũng cảm phi thường.

Nhớ lại một câu chuyện đau lòng năm 2010, anh Đỗ Văn Bằng không khỏi nghẹn ngào. Một đồng nghiệp của anh tại đảo Trường Sa Lớn, quan trắc viên Hoàng Văn Nghĩa, trong lúc làm nhiệm vụ dưới trời mưa gió đã bị một con sóng lớn cuốn đi mãi mãi. “Cậu ấy đang đo đạc ở cầu cảng, chỉ một khoảnh khắc, sóng ập đến, chẳng kịp trở tay”, giọng anh Bằng trĩu nặng. Liệt sĩ Hoàng Văn Nghĩa được Thủ tướng ký bằng Tổ quốc ghi công vì sự hy sinh quên mình của anh cho công việc. Điều đó đủ để chúng ta hiểu được sự gian khổ và hiểm nguy của nhiệm vụ quan trắc khí tượng giữa biển khơi.

Chính anh Bằng cũng đã từng đối mặt với hiểm nguy tương tự. Đó là năm 2013, khi cơn bão Haiyen càn quét qua Biển Đông, nhà giàn DK1/7 đối mặt nguy cơ đổ sập, toàn bộ quân số trên nhà giàn buộc phải rời nhà khẩn cấp. Các anh nhảy xuống biển, ôm phao, túm dây, thả trôi trong sóng nước nhiều giờ để chờ tàu cứu hộ. “Lúc đó, nói không sợ thì là nói dối, nhưng mà nhìn anh em bộ đội hải quân bên cạnh, ai cũng vững vàng, sẵn sàng hỗ trợ giúp đỡ nhau nên mình cũng an tâm”, anh Bằng nhớ lại.

Nhiệm vụ gian khó là vậy, điều kiện sinh hoạt công tác lại cũng chẳng dễ dàng. Trên ngôi nhà thép cao chân giữa đầu sóng ngọn gió, dù đã được Đảng, Nhà nước quan tâm đầu tư, song do đặc thù về địa điểm đóng quân, những con người sống ở đó vẫn luôn thiếu thốn đủ thứ cả về vật chất lẫn tinh thần. Thèm một miếng rau xanh những mùa gió chướng, nhớ một gương mặt yêu thương ở bến bờ. Đôi khi, đó là điều xa xỉ. “Mình là bộ đội, đóng quân ở đây theo chức trách, nhiệm vụ nhưng cũng có thời hạn thôi. Sau đó sẽ luân chuyển sang đơn vị khác hoặc về đất liền. Còn các anh quan trắc khí tượng thì cứ tuần tự tiếp nối công việc này đến tận lúc nghỉ hưu. Tức là cả đời gắn với biển. Mình trân trọng và nể phục lắm!”, Trung tá Trần Văn Đông, Chính trị viên Nhà giàn DK1/7 chia sẻ đầy chân thành khi được hỏi về những người đồng chí sống “cùng nhà”.

Những mùa giông không ngủ

Năm 1989, những nhà giàn đầu tiên được xây dựng trên thềm lục địa phía nam Tổ quốc. Năm 1991, nhà giàn DK1/7 hoàn thành cũng là lúc trạm khí tượng thủy văn ở đây đi vào hoạt động. Thấm thoát đã 34 mùa giông bão đi qua cuộc đời anh Phan Thành Thật, quan trắc viên kỳ cựu ở nhà giàn này. Sinh ra và lớn lên ở quê hương Bình Định, chàng trai 18 tuổi năm nào xông pha những bước chân đầu tiên ra nơi đầu sóng nay tóc đã nhuộm màu thời gian, còn da thì ngăm ngăm vị nắng và muối biển. Anh điềm tĩnh và trầm tính, ít nói về mình, phải gặng hỏi mãi anh mới thủng thẳng: “Gắn bó với nghề, với biển đã lâu, nghề như thấm vào máu rồi. Gian khổ, nguy hiểm cũng đã quen. Không bỏ nghề được! Chỉ thương vợ con thiệt thòi. Nội, ngoại dồn cả lên vai vợ”.

Ở nhà giàn mãi rồi ai cũng tìm thấy và giữ lại được cho mình những tình cảm yêu thương mộc mạc và giản dị. DK1/7 trở thành mái nhà chung giữa đại dương, nơi sưởi ấm những trái tim xa đất liền bằng tình đồng chí, đồng đội. Có lẽ, sự đoàn kết gắn bó mới chính là điều kiện tiên quyết nhất để cả hai lực lượng cùng hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình. San sẻ buồn vui cuộc sống, động viên nhau lúc ốm đau, đỡ đần nhau trong công việc khiến những bữa cơm chung của họ luôn đầy ắp tiếng cười dẫu điều kiện nơi đầu sóng còn lắm gian nan.

Ngoài thực hiện nhiệm vụ chuyên môn, mỗi nhân viên quan trắc khí tượng cũng là một người chiến sĩ tham gia vào nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền, thực hiện duy trì chế độ nền nếp quân đội, tham gia huấn luyện các nội dung phục vụ quá trình công tác trên nhà giàn như: huấn luyện phòng chống cháy nổ, cứu hộ cứu nạn, rời nhà khẩn cấp trong các tình huống… Các nhân viên khí tượng cũng luôn có mặt tham gia huấn luyện tình huống sẵn sàng chiến đấu, bảo vệ nhà giàn. Đại úy Nguyễn Công Hiệu, Chỉ huy trưởng Nhà giàn DK1/7 giải thích: “Trước nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền, không có chuyện phân biệt việc của anh hay việc của tôi. Tất cả đều sẵn sàng cầm súng bảo vệ nhà giàn, bảo vệ tiền đồn của Tổ quốc”.

Thế mới biết, những số liệu khô khan chuyển về đất liền là mồ hôi, nước mắt, đôi khi cả máu. Nó cũng là thanh âm của biển, là nhịp đập của những trái tim hăng say, bền bỉ lao động, cống hiến và sẵn sàng chiến đấu nơi đầu sóng.

“Các đồng chí khí tượng sẽ tham gia sinh hoạt chi bộ, chi đoàn với tư cách là đảng viên/đoàn viên sinh hoạt tạm thời. Như vậy, nhà giàn nắm được về mặt tư tưởng chính trị, phẩm chất đạo đức lối sống, ý thức kỷ luật của các đồng chí. Đồng thời, thông qua sinh hoạt thì các đồng chí sẽ luôn cập nhật và nắm chắc các chủ trương mới của Đảng, Nhà nước”, Trung tá Trịnh Văn Nghị, chính trị viên phó Tiểu đoàn DK1, vùng 2 Hải quân chia sẻ thêm. Rồi anh tiếp: “Quan trọng là từ đó tạo điều kiện để tăng cường mối đoàn kết gắn bó giữa hai lực lượng”.

Dưới ánh hoàng hôn đỏ rực, biển khơi như trải ra trước mắt một tấm thảm vàng óng ánh, nhưng phía xa, những đám mây đen kịt đang dần kéo đến, báo hiệu một cơn bão lớn. Giờ cơm chiều vừa dứt, anh Thật và anh Phương nhanh chóng bàn bạc phương án trực báo số liệu cho đêm nay, đồng thời chuẩn bị các trang bị bảo đảm an toàn. Những bước chân hối hả, ráo riết, khẩn trương… họ luôn cố gắng giành thế chủ động trong mọi tình huống ngặt nghèo.

Từ sóng gió khắc nghiệt giữa biển khơi, chỉ cần thêm một số liệu được truyền về đất liền kịp thời là tăng thêm khả năng dự báo sớm, chính xác một cơn bão biển, một trận sóng thần hay một hình thái thời tiết cực đoan, giúp Tổ quốc giảm thiểu được thiệt hại, rủi ro về người và của. Từ sóng gió khắc nghiệt giữa biển khơi, có những trái tim thao thức cùng con số của người “bắt mạch” thời tiết, lúc nào cũng khắc khoải “nỗi nhớ hai chiều” - nhớ đất liền, và nhớ cả biển khi phải rời xa nó.

Theo Bài và ảnh: LÊ PHƯƠNG DUNG (NDO)

Có thể bạn quan tâm

Về lại ga xép

Về lại ga xép

Tôi đã cố cưỡng lại sự mời gọi của chuyến food tour (du lịch ẩm thực) tại trung tâm thành phố Hải Phòng (cũ) để xuống tàu sớm hơn ba ga.

Mùa săn kiến vàng

Mùa săn kiến vàng ở cao nguyên Gia Lai

(GLO)- Khi mùa khô phủ nắng lên những cánh rừng phía Tây Gia Lai, người Jrai bước vào mùa săn kiến vàng. Hành trình tìm kiếm những tổ kiến tuy nhọc nhằn nhưng cũng thú vị, thể hiện sự gắn bó giữa đồng bào dân tộc thiểu số với thiên nhiên từ xưa đến nay.

Ngày mới bên sông Pô Cô

E-magazine Ngày mới bên sông Pô Cô

(GLO)- Sớm mai ở Ia Krái, dòng Pô Cô uốn lượn như dải lụa bạc giữa mênh mông cây cối. Nước sông lăn tăn, gợn sóng nhỏ vỗ vào bãi cát vàng, len qua vườn rẫy, tạo thành một bản hòa ca của thiên nhiên và con người.

Giữ cây thuốc quý giữa đại ngàn An Toàn

Giữ cây thuốc quý giữa đại ngàn An Toàn

(GLO)- Tự xa xưa người Bahnar ở đại ngàn An Toàn (tỉnh Gia Lai) đã biết sử dụng nhiều loài cây rừng để làm thuốc chữa bệnh. Kinh nghiệm được chắt lọc qua nhiều thế hệ, không chỉ chăm sóc sức khỏe cộng đồng mà còn thể hiện sự am hiểu sâu sắc về tự nhiên, góp phần gìn giữ giá trị y học dân gian.

Xây dựng thế trận lòng dân nơi tà đạo "Hà Mòn" đi qua - Kỳ cuối: Xây dựng thế trận lòng dân- tường lửa ngăn tà đạo

E-magazine Xây dựng thế trận lòng dân nơi tà đạo "Hà Mòn" đi qua - Kỳ cuối: Xây dựng thế trận lòng dân- tường lửa ngăn tà đạo

(GLO)- Ba đối tượng cốt cán cuối cùng của tà đạo “Hà Mòn” bị bắt giữ tại khu vực núi Jơ Mông (giáp ranh xã Hra và xã Lơ Pang) vào ngày 19-3-2020 đã đánh dấu bước ngoặt quan trọng, khép lại hành trình đấu tranh kéo dài hơn một thập kỷ.

'Sói biển' Lý Sơn và hành trình nối biển ra Hoàng Sa

'Sói biển' Lý Sơn và hành trình nối biển ra Hoàng Sa

Ở đặc khu Lý Sơn (Quảng Ngãi), lão ngư Dương Minh Thạnh được nhiều ngư dân gọi là “lão ngư Hoàng Sa” bởi có công “nối biển” Lý Sơn ra quần đảo Hoàng Sa. Ông còn được mệnh danh là “sói biển” Lý Sơn, bởi sức vươn khơi dẻo dai, từng 5 lần thoát chết thần kỳ giữa bão biển.

Thúng chai lên phố

Thúng chai lên phố

Nghề đan thuyền thúng bằng tre (thúng chai) dùng để đi biển đánh bắt hải sản sau hàng trăm năm giờ đang dần mai một. Những ngư dân miền Trung vẫn âm thầm bám nghề bằng tình yêu mưa nắng đời người, và ngày càng nhiều những chiếc thúng chai rời biển về phố làm du lịch.

Những chuyện tình xuyên biên giới ở Ia O

Những chuyện tình xuyên biên giới ở Ia O

(GLO)- Trên vùng biên Ia O (tỉnh Gia Lai), dòng Pô Cô vừa là ranh giới tự nhiên, vừa là nhịp cầu kết nối lương duyên. Từ những lần qua lại thăm thân, dự lễ hội, nhiều mối tình nảy nở, hình thành nên những mái ấm xuyên biên giới bình dị, bền bỉ, góp phần dệt nên diện mạo riêng nơi phên giậu Tổ quốc.

Làng bồng bềnh trên dòng Pô Kô

Làng bồng bềnh trên dòng Pô Kô

Giữa miền biên viễn phía tây Gia Lai, trên dòng Pô Kô hùng vĩ, hàng chục gia đình từ Tây Nam bộ tìm đến lập nghiệp, dựng nên những căn nhà nổi chông chênh giữa sóng nước. Cuộc mưu sinh lặng lẽ thể hiện nghị lực của con người, ý chí bám trụ và khát vọng sống chan hòa cùng sông nước.

Bấp bênh xóm chài vùng biên

Bấp bênh xóm chài vùng biên

(GLO)- Xóm chài trên mặt hồ thủy điện Sê San (làng Tăng, xã Ia O) hiện có 17 hộ với 58 nhân khẩu, đến từ các tỉnh ở miền Đông Nam Bộ và Tây Nam Bộ. Không đất ở, thiếu giấy tờ tùy thân, họ tự dựng nhà bè, bám lấy con nước để mưu sinh.

null