Bà Tiên nơi rẻo cao

Theo dõi Báo Gia Lai trên Google News

Nhiều học sinh của Trường Trường Tiểu học và THCS Ba Lế, xã Ba Lế (huyện Ba Tơ, Quảng Ngãi) vẫn thường gọi bà Nguyễn Thị Thủy Tiên (58 tuổi) - nhân viên cấp dưỡng của trường, là bà ngoại.

Bà ngoại đặc biệt này có thâm niên 12 năm làm cấp dưỡng, trong đó có 9 năm tình nguyện làm việc không lương để chăm lo cho những đứa trẻ vùng cao.

Bà ngoại đặc biệt

Những ngày cuối tháng 5, trên địa bàn xã Ba Lế thường xảy ra mưa dông kèm sấm sét về chiều. Bà Tiên vừa nấu ăn cho hơn 50 học sinh ở bán trú tại trường, vừa tất tả chạy ra sân nhắc nhở những đứa trẻ đang đá bóng dưới trời mưa nhanh chóng vào phòng cho an toàn. Líu ríu chạy theo bà Tiên, cô học trò nhỏ Lê Hoàng Bảo Châu, học sinh lớp 9, Trường Tiểu học và THCS Ba Lế gọi bà bằng giọng điệu lo lắng: “Ngoại ơi! Ngoại cũng vào nhà đi, kẻo sấm sét!”. Bảo Châu là học sinh có hoàn cảnh đặc biệt. Suốt 6 năm qua, cô học trò nhỏ này chưa gặp lại người thân. Khu bán trú của Trường Tiểu học và THCS Ba Lế trở thành mái ấm; còn bà Tiên - nhân viên cấp dưỡng của trường cùng các thầy, cô giáo trở thành người thân của em.

1batien.jpg
Niềm vui của bà Tiên khi đứa cháu ngoại thứ 5 của bà là Lê Hoàng Bảo Châu khoe thành tích học tập.

“Châu có hoàn cảnh rất đáng thương. Mẹ của Châu gửi em cho một người bạn ở thôn Làng Tốt, xã Ba Lế nuôi dưỡng rồi đi làm ăn ở miền Nam. Năm Châu học lớp 3, người nuôi dưỡng Châu đến trường gửi gắm em cho nhà trường, xin cho Châu ở lại khu bán trú. Rồi từ đó đến nay, từ người nhận nuôi dưỡng cho đến người thân của em đều chưa một lần quay lại trường. Châu lớn lên trong sự cưu mang, đùm bọc của các thầy, cô giáo, đặc biệt là nhân viên cấp dưỡng của nhà trường là chị Tiên. Hiện chị Tiên là mẹ đỡ đầu của Châu”, Hiệu trưởng Trường Tiểu học và THCS Ba Lế Trần Văn Thắng kể.

Suốt 6 năm qua, Châu sống trong vòng tay yêu thương của người bà đặc biệt này. Dẫu không máu mủ ruột rà, nhưng bà Tiên đã chăm sóc, yêu thương Châu bằng tất cả tấm lòng của một người mẹ, một người bà.

Lương của một nhân viên cấp dưỡng chỉ gần 3 triệu đồng/tháng, bà Tiên dè sẻn chi tiêu, dành cố định hơn 15% tiền lương của mình để cho Châu chi tiêu mỗi tháng. Bà Tiên lo cho Châu từng bộ quần áo, đồ dùng học tập, đồ sinh hoạt cá nhân. Mỗi dịp nghỉ hè, tết Nguyên đán, bà chở Châu về ở nhà của bà tại xã Long Sơn (Minh Long). Sáu năm xa người thân, cũng là 6 cái Tết, Châu được đón Tết cổ truyền chan chứa yêu thương cùng bà ngoại Tiên và 4 đứa cháu ngoại khác của bà. “Tôi có 4 đứa cháu ngoại, giờ thêm Châu nữa là 5. Nhìn các cháu ngoại của mình có cha mẹ yêu thương, chăm lo chu đáo, tôi lại càng thương và mong muốn được bù đắp, quan tâm Châu nhiều hơn. Tôi sẽ cố gắng gói ghém để chăm lo cho Châu, vì Châu thiệt thòi so với bạn bè cùng trang lứa... Các con tôi đều ủng hộ việc làm của tôi và cũng rất thương Châu”, bà Tiên tâm sự.

Chị Nguyễn Thị Thủy Tiên là một nhân viên cấp dưỡng có trách nhiệm với công việc và tấm lòng yêu thương vô bờ bến với học sinh. Tấm lòng của chị không chỉ gieo vào lòng học sinh những tình cảm tốt đẹp, mà các thầy, cô giáo trong nhà trường cũng đều mến phục chị”.

Hiệu trưởng Trường Tiểu học và THCS Ba Lế TRẦN VĂN THẮNG

Bà Tiên bảo mình không phải người yếu đuối, ủy mị. Những khó khăn, sóng gió trên bước đường đời càng khiến bà hun đúc thêm quyết tâm để vượt qua. Ấy thế mà, khi sống cùng Châu - cô học trò nhỏ 6 năm đằng đẵng chưa gặp lại người thân của mình, bà đã nhiều lần rơi nước mắt. “Châu được trường bố trí chỗ ở riêng cùng các bạn, nhưng cháu xin được ngủ cùng tôi. Cháu ít nói, ít bộc lộ cảm xúc, nhưng tối đến, nhìn cái cách cháu ôm chặt lấy tôi như sợ phải xa tôi, tôi lặng lẽ nằm khóc. Khóc vì xót, vì thương và trăn trở về tương lai của đứa cháu ngoại thứ 5 này”, bà Tiên rưng rưng.

Miệt mài "gieo hạt nắng vô tư"

Năm học 2024 - 2025 là năm học thứ 12 bà Tiên gắn bó với công việc nấu ăn cho học trò vùng cao Ba Lế. Nhưng chỉ đến tháng 1/2022, bà Tiên mới chính thức được Trường Tiểu học và THCS Ba Lế ký hợp đồng nhân viên cấp dưỡng và được hưởng lương. Những năm trước đó, bà đã miệt mài làm việc không lương vì học trò nghèo nơi rẻo cao.

2batien.jpg
Bà Tiên cùng học sinh Trường Tiểu học và THCS Ba Lế xây dựng vườn rau sạch trong khuôn viên khu nhà bán trú.

“Năm 2011, tôi từ xã Long Sơn lên xã Ba Lế để mở quán ăn. Ngày đó, Trường THCS Ba Lế chưa sáp nhập vào Trường Tiểu học Ba Lế, quán ăn của tôi ở đối diện Trường THCS Ba Lế lúc bấy giờ. Dù quê ở Long Sơn - cũng là một địa phương miền núi, nhưng khi lên đến vùng rẻo cao Ba Lế, tôi vẫn không khỏi ngỡ ngàng trước những khó khăn, thiếu thốn của học sinh nơi đây. Các con thiếu ăn, thiếu cả quần áo để mặc. Nhiều học sinh ở Làng Tốt - một thôn có điều kiện đi lại rất khó khăn của xã Ba Lế phải băng rừng, lội suối từ 4 giờ sáng mới kịp đến trường. Vậy nên, năm 2013, khi được nhà trường ngỏ lời nhờ nấu cơm cho các em ở thôn Làng Tốt để tạo điều kiện cho các em ở lại bán trú, tôi nhận lời ngay mà chẳng đắn đo, chần chừ”, bà Tiên bồi hồi nhớ lại.

Nhận lời nấu ăn cho học sinh trong những ngày đầu gian khó, khi nhà bán trú dân nuôi tại đây chưa có bếp ăn, bà Tiên biến quán ăn của mình trở thành địa điểm ăn trưa, ăn tối của học sinh bán trú. Ngày đó, xã Ba Lế tuy chỉ cách thị trấn Ba Tơ chừng 20km, nhưng đường sá đi lại rất khó khăn. Từ trung tâm thị trấn Ba Tơ đi vào trung tâm xã Ba Lế phải mất hơn 1,5 giờ đồng hồ. Để đảm bảo những suất ăn đầy đủ chất dinh dưỡng cho học sinh, bà Tiên phải vượt đường núi để đi chợ từ sáng sớm. Tại mặt bằng quán ăn mà mình thuê để buôn bán, bà Tiên còn dành hẳn một khoảnh đất để tăng gia sản xuất, nhằm chủ động thêm một phần rau xanh, góp vào các suất ăn cho học sinh.

3batien.jpg
Bà Nguyễn Thị Thủy Tiên - nhân viên cấp dưỡng Trường Tiểu học và THCS Ba Lế (Ba Tơ) luôn tận tụy với công việc của mình.

“Ngày ấy, tôi đảm đương nấu ăn cho 15 học sinh. Cứ mỗi học sinh, phụ huynh hỗ trợ cho tôi tiền công nấu 2 nghìn đồng. Còn tiền mua nguyên liệu nấu ăn, mỗi phụ huynh đưa tôi 8 nghìn đồng. Tiền công mà tôi được trả, nếu cân đo đong đếm, chỉ đủ bù vào tiền gia vị, chi phí nhiên liệu, chứ chưa bù đắp được công sức bỏ ra. Song, tôi nghĩ, mình làm được gì cho các cháu thì mình cứ làm. Vì nếu không giải quyết được bài toán “nơi ăn”, thì dù đã có “chốn ở”, các phụ huynh cũng không yên tâm để con mình ở bán trú”.

Mười hai năm miệt mài với học sinh vùng cao, bà Tiên được các thế hệ học sinh vùng rẻo cao Ba Lế gọi bằng hai chữ thân thương “bà ngoại". Có bà ngoại Tiên, các búp măng non vùng cao không chỉ được chăm lo từng bữa ăn, giấc ngủ, mà còn được lớn lên trong tình yêu thương, thắm thiết vô bờ.

Theo Bài, ảnh: Ý THU (Báo Quảng Ngãi)

Có thể bạn quan tâm

Về lại ga xép

Về lại ga xép

Tôi đã cố cưỡng lại sự mời gọi của chuyến food tour (du lịch ẩm thực) tại trung tâm thành phố Hải Phòng (cũ) để xuống tàu sớm hơn ba ga.

Viết lại đời mình bằng việc tử tế

Viết lại đời mình bằng việc tử tế

(GLO)- Ít ai biết, sau dáng vẻ điềm đạm, ít nói của người đàn ông đã bước qua tuổi lục tuần - Kpă Dõ, Trưởng ban Công tác Mặt trận làng Lê Ngol (xã Bờ Ngoong) - là một quá khứ nhiều day dứt. Hai mươi lăm năm trước, vì nhẹ dạ và thiếu hiểu biết, ông bị lôi kéo vào con đường lầm lỡ.

Tìm các anh giữa cỏ non Thành cổ

Tìm các anh giữa cỏ non Thành cổ

Sáng 2.4 vừa qua, tại di tích lịch sử Thành cổ Quảng Trị (tỉnh Quảng Trị), Ban Chỉ đạo quốc gia tổ chức lễ phát động "Chiến dịch 500 ngày đêm đẩy mạnh thực hiện tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ".

Mùa săn kiến vàng

Mùa săn kiến vàng ở cao nguyên Gia Lai

(GLO)- Khi mùa khô phủ nắng lên những cánh rừng phía Tây Gia Lai, người Jrai bước vào mùa săn kiến vàng. Hành trình tìm kiếm những tổ kiến tuy nhọc nhằn nhưng cũng thú vị, thể hiện sự gắn bó giữa đồng bào dân tộc thiểu số với thiên nhiên từ xưa đến nay.

Ngày mới bên sông Pô Cô

E-magazine Ngày mới bên sông Pô Cô

(GLO)- Sớm mai ở Ia Krái, dòng Pô Cô uốn lượn như dải lụa bạc giữa mênh mông cây cối. Nước sông lăn tăn, gợn sóng nhỏ vỗ vào bãi cát vàng, len qua vườn rẫy, tạo thành một bản hòa ca của thiên nhiên và con người.

Giữ cây thuốc quý giữa đại ngàn An Toàn

Giữ cây thuốc quý giữa đại ngàn An Toàn

(GLO)- Tự xa xưa người Bahnar ở đại ngàn An Toàn (tỉnh Gia Lai) đã biết sử dụng nhiều loài cây rừng để làm thuốc chữa bệnh. Kinh nghiệm được chắt lọc qua nhiều thế hệ, không chỉ chăm sóc sức khỏe cộng đồng mà còn thể hiện sự am hiểu sâu sắc về tự nhiên, góp phần gìn giữ giá trị y học dân gian.

Xây thế trận lòng dân từ sâu rễ bền gốc nơi tà đạo Hà Mòn đi qua

E-magazine Xây dựng thế trận lòng dân nơi tà đạo Hà Mòn đi qua - Kỳ 2: Tỉnh ngộ sau chuỗi ngày tối tăm

(GLO)- Phía sau những lời hứa hẹn mơ hồ về một cuộc sống sung túc không cần lao động. Ở một số buôn làng, những mái nhà vốn yên ấm bị xáo trộn. Chỉ khi cấp ủy, chính quyền, lực lượng chức năng kiên trì vận động, nhiều người mới dần nhận ra sự thật, tỉnh ngộ và quay về với cuộc sống bình thường.

Xây dựng thế trận lòng dân nơi tà đạo “Hà Mòn” đi qua - Kỳ 1: Nơi bóng tối tà đạo “Hà Mòn” đi qua

E-magazine Xây dựng thế trận lòng dân nơi tà đạo “Hà Mòn” đi qua - Kỳ 1: Nơi bóng tối tà đạo “Hà Mòn” đi qua

(GLO)- Có một thời, ở những ngôi làng Bahnar như Kret Krot (xã Hra), Kuk Kôn, Kuk Đak (xã Đak Pơ), nhịp sống bình yên bỗng chùng xuống. Tà đạo Hà Mòn như một “cơn gió độc” quét qua, để lại phía sau sự im ắng nặng nề, len lỏi vào từng mái nhà, khiến buôn làng trở nên khép kín, u ám.

Thúng chai lên phố

Thúng chai lên phố

Nghề đan thuyền thúng bằng tre (thúng chai) dùng để đi biển đánh bắt hải sản sau hàng trăm năm giờ đang dần mai một. Những ngư dân miền Trung vẫn âm thầm bám nghề bằng tình yêu mưa nắng đời người, và ngày càng nhiều những chiếc thúng chai rời biển về phố làm du lịch.

Những chuyện tình xuyên biên giới ở Ia O

Những chuyện tình xuyên biên giới ở Ia O

(GLO)- Trên vùng biên Ia O (tỉnh Gia Lai), dòng Pô Cô vừa là ranh giới tự nhiên, vừa là nhịp cầu kết nối lương duyên. Từ những lần qua lại thăm thân, dự lễ hội, nhiều mối tình nảy nở, hình thành nên những mái ấm xuyên biên giới bình dị, bền bỉ, góp phần dệt nên diện mạo riêng nơi phên giậu Tổ quốc.

Làng bồng bềnh trên dòng Pô Kô

Làng bồng bềnh trên dòng Pô Kô

Giữa miền biên viễn phía tây Gia Lai, trên dòng Pô Kô hùng vĩ, hàng chục gia đình từ Tây Nam bộ tìm đến lập nghiệp, dựng nên những căn nhà nổi chông chênh giữa sóng nước. Cuộc mưu sinh lặng lẽ thể hiện nghị lực của con người, ý chí bám trụ và khát vọng sống chan hòa cùng sông nước.

null