Khoảng lặng cồng chiêng - Kỳ 3: Tiếp sức cho di sản thế giới

Theo dõi Báo Gia Lai trên Google News

“Nhiều củi thì nhóm thành đống lửa to”, câu khan của nghệ nhân Ama Nhiên (buôn Akô Dhông, phường Tân Lợi, TP Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk) như một lời nhắn gửi.

Giữ gìn văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên cần sự chung tay của cộng đồng, của chính quyền, các nghệ nhân và thế hệ trẻ hôm nay trên cơ sở các phương pháp đúng đắn, khoa học, phù hợp xu thế phát triển.

untitled-5254.jpg
Nhà nghiên cứu âm nhạc Bùi Trọng Hiền diễn giải các thang âm cồng chiêng cho công chúng tại Lễ hội Thiết kế sáng tạo Hà Nội 2023.

(Tiếp theo và hết)

Theo yếu tố gốc… tìm về

Chia sẻ những khó khăn trong công tác bảo tồn, gìn giữ không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên sau 20 năm được UNESCO ghi danh, Trưởng phòng Quản lý văn hóa, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch (VHTT&DL) Kon Tum Đậu Ngọc Hoài Thu cho biết, ở góc độ chuyên môn, có thể thấy tính thiêng của cồng chiêng giờ đây không còn đậm đặc như trước. Vấn đề đáng lo ngại nhất hiện nay là sự hiện đại hóa trong dàn âm thanh của cồng chiêng. Cồng chiêng được đánh theo thang âm bình quân (đồ, rê, mi…). Bên cạnh đó, nhiều cơ quan, ban ngành cùng tham gia công tác bảo tồn văn hóa cồng chiêng. Mỗi đơn vị, cá nhân lựa chọn một phương pháp tiếp cận khác nhau. Nếu không có chuyên môn sẽ vô tình làm mai một các bài chiêng cổ.

Thang âm là yếu tố nền tảng làm nên tính đặc sắc trong âm thanh cồng chiêng Tây Nguyên. Đánh sai thang âm hay sự pha trộn thang âm của các dân tộc dẫn đến sự biến mất của thang âm chuẩn. Hơn 20 năm trước, khi tham gia lập hồ sơ không gian văn hóa cồng chiêng trình UNESCO, nhà nghiên cứu âm nhạc Bùi Trọng Hiền ngỡ ngàng trước sự đa dạng và phong phú của các hệ thang âm riêng biệt trong dàn cồng chiêng của người Ba Na, Gia Rai, Xơ Đăng… Nhưng đến năm 2022, khi chấm thi Liên hoan cồng chiêng do Sở VHTT&DL Kon Tum tổ chức, anh “tá hỏa” nhận thấy hầu như các dàn cồng chiêng đều đánh sai thang âm. Hiện tượng “lai âm” tràn lan, bộ chiêng của Xơ Đăng đánh lên lại nghe giống như của Ba Na hay Gia Rai. Những dấu hiệu này phản ánh nguy cơ các thang âm đặc sắc của cồng chiêng Tây Nguyên đang bị pha trộn và mất đi yếu tố gốc.

Nhận định này càng được khẳng định trong quá trình tiếp xúc với học viên tại các lớp chỉnh chiêng được tổ chức sau đó, nhà nghiên cứu Bùi Trọng Hiền càng nhận thấy sự biến mất của thang âm cổ truyền hiển hiện rõ nét. Nguy hiểm hơn là lỗi sai theo hệ thống. Qua những chia sẻ với nhóm tác giả bài viết, cũng như một số nhận xét, cảnh báo trên mạng xã hội, trên báo chí thời gian qua, ông chỉ ra thực trạng: Người đánh chiêng, chỉnh chiêng truyền dạy sai, kéo theo người học sai nhưng không biết. Thang âm chuẩn mất đi, thang âm bình quân phương Tây đã tràn ngập đời sống âm nhạc hiện nay. Các nhạc cụ truyền thống của các dân tộc vùng Tây Nguyên như đàn tơ rưng, klong put, đàn đá… cũng chơi cải tiến theo thang âm hiện đại.

Nhiều năm trước, nhà nghiên cứu Bùi Trọng Hiền đã lặn lội đi khắp Tây Nguyên học chỉnh chiêng từ các nghệ nhân có tiếng. Quan trọng hơn cả, ông đã ghi lại một cách cẩn thận những thang âm chuẩn của các bài chiêng cổ cách đây hơn 20 năm. Có nền tảng vững chắc thì khả năng tái sinh thang âm cổ truyền không rơi vào vô vọng. Trong hành trình gìn giữ cồng chiêng, ông còn lặn lội, học hỏi kiến thức về chế tác và chỉnh chiêng tại Malaysia, Indonesia, Myanmar…, từ đó, tìm được nguyên lý tạo ra những thang âm của chiêng, phương pháp chỉnh chiêng đơn giản, dễ thực hành, dễ truyền đạt.

Suốt 2 năm qua, nhà nghiên cứu âm nhạc Bùi Trọng Hiền đã nỗ lực tham gia truyền dạy các lớp chỉnh âm cồng chiêng trên địa bàn 2 tỉnh Kon Tum và Gia Lai. Năm 2024, lần đầu tiên nhà nghiên cứu âm nhạc Bùi Trọng Hiền cùng đồng nghiệp phục dựng cả dàn cồng chiêng Xơ Đăng ở huyện Ngọc Hồi, tỉnh Kon Tum nhờ thông số thang âm được đo cách đây 20 năm. Hành trình tìm lại “thang âm chuẩn” này vừa có nỗ lực của các nhà nghiên cứu văn hóa, vừa cần sự gắn kết giữa cũ và mới, giữa bảo tồn và phát triển.

Việc phục dựng, tái hiện các nghi lễ giúp duy trì thực hành di sản cồng chiêng.
Việc phục dựng, tái hiện các nghi lễ giúp duy trì thực hành di sản cồng chiêng.

Từng bước hồi sinh hồn chiêng

Trước thực tế biến đổi của không gian văn hóa cồng chiêng, Phó Giám đốc Sở VHTT&DL tỉnh Kon Tum Phan Văn Hoàng cho biết: “Chúng tôi phục dựng bắt đầu từ yếu tố cồng chiêng và các sinh hoạt buôn làng. Hằng năm, tỉnh duy trì tổ chức một số lễ hội, để bà con có không gian diễn xướng cồng chiêng. Việc quan trọng nhất của tỉnh Kon Tum là tập trung nhân lực, nguồn lực cho công tác điền dã, sưu tầm, hệ thống và số hóa những bài chiêng cổ. Tính đến thời điểm hiện tại, tỉnh Kon Tum sưu tầm được 145 bài chiêng cổ, trên cơ sở đó, phục hồi từng công đoạn để phục dựng, bảo tồn các thành tố trong không gian văn hóa cồng chiêng. Hiện tại, Kon Tum vẫn còn một số làng chưa có bộ cồng chiêng của tập thể. Tỉnh đặt mục tiêu cuối năm nay, 100% làng dân tộc thiểu số có bộ cồng chiêng để sinh hoạt cộng đồng.

Không gian văn hóa cồng chiêng đã biến đổi và thu hẹp, nhưng lại mở ra dư địa để các tỉnh Tây Nguyên khai thác du lịch văn hóa gắn với văn hóa cồng chiêng, tạo sản phẩm du lịch thu hút du khách, đồng thời phát triển sinh kế cho người dân. Ngày càng nhiều buôn du lịch cộng đồng được công nhận, kéo theo việc thành lập các đội cồng chiêng văn nghệ phục vụ du khách trải nghiệm, tìm hiểu bản sắc văn hóa vùng Tây Nguyên. Mấu chốt quan trọng nhất để bảo tồn di sản văn hóa này, là đào tạo thế hệ kế cận và chăm lo đội ngũ nghệ nhân đang thực hành và nắm vững tri thức về cồng chiêng. Vì vậy, ở Đắk Lắk, Gia Lai hay Kon Tum, nhiều năm nay, ngành văn hóa thường xuyên tổ chức các lớp truyền dạy, đào tạo lớp trẻ, thành lập các đội cồng chiêng nhí. Người đứng lớp là các nghệ nhân ưu tú của tỉnh, của đồng bào truyền dạy văn hóa truyền thống của chính dân tộc mình cho con em mình. Bản thân các nghệ nhân nắm giữ di sản cũng chủ động mở các lớp truyền dạy và chỉnh âm cồng chiêng. Ngày càng nhiều thanh, thiếu niên yêu thích văn hóa dân tộc. Từ lớp 5, lớp 7 các em bắt đầu tiếp cận học đánh chiêng cơ bản.

Bảo tồn di sản văn hóa dân gian nói chung, không gian văn hóa cồng chiêng là một hành trình dài, cần huy động tổng thể nỗ lực và nguồn lực mới thấy rõ hiệu quả. Bên cạnh các ý kiến, đề xuất hướng phát triển mô hình không gian văn hóa cồng chiêng; gắn bảo tồn di sản văn hóa với phát triển sinh kế, một số địa phương đã đề xuất đưa các tri thức dân gian, bản sắc truyền thống vào sách giáo khoa và chương trình giáo dục địa phương. Đây được xem là hướng đi bảo tồn bền vững để giữ lại được di sản lâu dài.

Cần nhiều khuyến cáo để tránh sai đường

Tuy nhiên, trong tiến trình này, các chuyên gia và nhà nghiên cứu về văn hóa lưu ý, các địa phương cần hết sức thận trọng tác động làm biến đổi di sản. Việc lựa chọn đội văn nghệ, lứa tuổi và bài chiêng trình diễn cần phù hợp từng hoàn cảnh và sự kiện. Tại các điểm phát triển du lịch, tránh việc truyền dạy cồng chiêng chéo giữa các dân tộc, gây ra sự nhầm lẫn trong giai điệu, làm ảnh hưởng và mai một yếu tố gốc của cồng chiêng. Cùng với đó, các tỉnh Tây Nguyên nên luân phiên tổ chức Festival cồng chiêng hai đến ba năm một lần. Hoạt động này vừa mang tính liên kết, cùng chung tay gìn giữ văn hóa cồng chiêng, vừa là cơ hội để đồng bào giao lưu, trình diễn và trao đổi kinh nghiệm bảo tồn, tôn vinh các giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc.

Thực tế cho thấy, không gian văn hóa cồng chiêng tự thân đã vận động và phát triển theo thời gian và chiều kích không gian mới, không còn giới hạn trong cộng đồng buôn làng, lễ mừng nhà rông, cúng bến nước, mừng năm mới, mà văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên đã trở thành một phần của các sự kiện liên hoan, kỷ niệm, giao lưu ở các tỉnh Tây Nguyên và trên cả nước, xa hơn là lan tỏa ra quốc tế. Vì vậy, cần có thái độ cởi mở, tích cực trước những biến đổi của thời cuộc; bảo tồn các thành tố trong không gian văn hóa cồng chiêng trên cơ sở chắt lọc, lựa chọn những nét đặc trưng cho phù hợp bối cảnh hiện nay. Song song với đó, cũng rất quan trọng trong việc truyền thông, quảng bá, tác động trực tiếp đến nhận thức của cộng đồng bản địa để đồng bào hiểu về giá trị di sản, về vốn quý bản sắc tộc người… Từ đó cổ vũ, tôn vinh và khuyến khích bà con tự bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa cồng chiêng phù hợp xu thế phát triển của hiện tại và tương lai.

Theo Bài và ảnh: KHIẾU LIÊN, HẠNH THẮNG (NDĐT)

Có thể bạn quan tâm

Chiếc a chói giữa rừng Trường Sơn

Chiếc a chói giữa rừng Trường Sơn

Dưới mái hiên nhà sàn ở xã La Lay (Quảng Trị), tiếng dao chẻ tre vang lên đều đặn giữa buổi sớm. Nghệ nhân Hồ Văn Thành ngồi bên bó mây vừa lấy từ rừng về. Ông tỉ mẩn đường dao chuốt từng sợi nan tre. Ở miền tây Quảng Trị, hình ảnh ấy không hiếm gặp...

Nghị lực phi thường của người thương binh hạng nặng Lê Thái Hà

Nghị lực phi thường của người thương binh hạng nặng Lê Thái Hà

(GLO)- Khi bị thương nặng tại chiến trường Campuchia, ông Lê Thái Hà (trú phường Bình Định, tỉnh Gia Lai) không nghĩ mình sẽ sống sót. Phục viên với sức khỏe suy giảm đến 91%, ông cũng từng không dám mơ đến những điều xa xôi về tương lai. Vậy mà người cựu chiến binh ấy đã can trường vượt qua tất cả.

4 ngày làm vợ, 54 năm đợi chờ

4 ngày làm vợ, 54 năm đợi chờ

Sau 54 năm kể từ ngày liệt sĩ Nguyễn Văn Đinh ngã xuống trên chiến trường Quảng Trị, bà Nguyễn Thị Ngọ (Nghệ An) mới được đứng trên mảnh đất ông hy sinh. Hành trình ấy khép lại nỗi khắc khoải của một người vợ, nhưng mở ra câu chuyện lay động về tình yêu, sự thủy chung không phai theo năm tháng.

'Bí kíp' nón ngựa nghĩa quân Tây Sơn

'Bí kíp' nón ngựa nghĩa quân Tây Sơn

Nghệ nhân ưu tú Đỗ Văn Lan (80 tuổi, ông Ba Lan) đang giữ nguyên vẹn “bí kíp” tổ truyền làm “nón ngựa Phú Gia” mà ngày xưa nghĩa quân Tây Sơn đội nắng mưa hành quân thần tốc. Những chiếc nón không chỉ như một tác phẩm nghệ thuật mà còn rất bền.

Tiếng vọng trong những phiến đá rêu phong

Tiếng vọng trong những phiến đá rêu phong

(GLO)- Ẩn mình dưới tán rừng già trên dãy núi Bích Kê, lũy đá cổ Phú Hà (thôn Hòa Tân, xã Phù Mỹ Bắc) lặng lẽ tồn tại như một chứng nhân của thời gian. Những bức tường đá phủ rêu bền bỉ trước mưa nắng dường như đang gìn giữ câu chuyện về một vùng đất từng giữ vị trí trọng yếu trong lịch sử.

Chợ ở Quy Nhơn xưa

Chợ ở Quy Nhơn xưa

Với vùng đất Quy Nhơn xưa (nay thuộc tỉnh Gia Lai), tìm hiểu những ngôi chợ cũ cũng là lần giở lại ký ức về quá trình hình thành và phát triển của một đô thị thương cảng, đặc biệt trên phương diện giao thương.

Lính công binh hồi sinh những vùng đất chết

Lính công binh hồi sinh những vùng đất chết

(GLO)- Giữa những cánh rừng và triền núi của phường Bồng Sơn và xã An Toàn, nơi chiến tranh từng đi qua và để lại vô số vết thương, cán bộ, chiến sĩ Lữ đoàn Công binh 7 (Quân đoàn 34) đang lặng lẽ thực hiện nhiệm vụ rà phá bom mìn, trả lại sự an toàn cho đất đai và cuộc sống bình yên cho người dân.

Từ Tiên Nữ đến Núi Le C: Khát vọng xanh giữa trùng khơi

Từ Tiên Nữ đến Núi Le C: Khát vọng xanh giữa trùng khơi

(GLO)- Giữa biển trời Tổ quốc, cán bộ, chiến sĩ đảo Tiên Nữ và Núi Le C vẫn kiên cường bám biển, giữ đảo. Vượt qua nắng gió khắc nghiệt và thiếu thốn nơi đầu sóng, những người lính đảo đang lặng thầm vun đắp màu xanh sự sống, giữ vững chủ quyền thiêng liêng của biển đảo quê hương.

“Đường về” của Siu Un

“Đường về” của Siu Un

(GLO)- Sau những sai lầm trong quá khứ, ông vượt qua mặc cảm, thay đổi nhận thức, trở thành người tích cực tuyên truyền pháp luật, vận động bà con sinh hoạt tôn giáo đúng quy định, góp phần giữ gìn bình yên buôn làng.

Những phận đời bới rác mưu sinh

Những phận đời bới rác mưu sinh

(GLO)- Mỗi buổi sáng, khi phố Núi còn bảng lảng sương sớm, những chuyến xe chở rác lại nối đuôi vào khu tập kết rác xã Gào. Giữa mùi hôi nồng và đàn ruồi dày đặc, những người phụ nữ lặng lẽ cúi mình trên nền đất nhớp nháp, cần mẫn bới tìm chai nhựa, lon bia, giấy vụn…

null