Hướng đến thương hiệu nhãn An Thành

Theo dõi Báo Gia Lai trên Google News

(GLO)- Nhiều nông dân xã An Thành (huyện Đak Pơ, tỉnh Gia Lai) đã chuyển đổi diện tích mía sang trồng cây ăn quả mang lại hiệu quả kinh tế cao và bền vững. Trên nền tảng đó, xã định hướng mở rộng diện tích nhãn và đặt mục tiêu xây dựng thương hiệu “Nhãn An Thành” vào năm 2025.

 Vườn nhãn của gia đình ông Nguyễn Văn Minh (thôn 3, xã An Thành, huyện Đak Pơ) đem lại hiệu quả kinh tế cao. Ảnh: Phương Vi
Vườn nhãn của gia đình ông Nguyễn Văn Minh (thôn 3, xã An Thành, huyện Đak Pơ) đem lại hiệu quả kinh tế cao. Ảnh: Phương Vi

Trên diện tích khoảng 5 sào, ông Nguyễn Văn Minh (thôn 3) trồng 100 cây nhãn Hương Chi. Đưa chúng tôi đi tham quan vườn nhãn, ông Minh chia sẻ: “Trước đây, tôi trồng mía nhưng giá cả bấp bênh. Trồng nhãn mất khoảng 4-5 năm chăm sóc nhưng thu hoạch có thể lên đến 20 năm. Tính về hiệu quả kinh tế so với các loài cây truyền thống thì cây nhãn cao hơn rất nhiều. Mỗi cây trung bình thu hoạch gần 1 tạ quả. Mỗi năm, vườn nhãn đem lại cho gia đình thu nhập khoảng 50 triệu đồng sau khi trừ chi phí”.

Theo ông Minh, giống nhãn Hương Chi phù hợp với vùng đất An Thành. Vì vậy, vườn cây sinh trưởng và phát triển tốt, ít sâu bệnh. Ông không sử dụng thuốc hóa học để tạo ra sản phẩm nhãn sạch, chất lượng, đáp ứng nhu cầu của thị trường. “Giống nhãn này có ưu điểm quả to, khi chín thì căng mọng, cơm dày và rất thơm nên được ưa chuộng, thương lái tìm đến tận vườn để mua”-ông Minh cho hay.

Cũng nhận thấy hiệu quả từ cây nhãn, anh Huỳnh Hữu Nghị (thôn 5) đã chuyển đổi hơn 2 ha mía để trồng 900 cây nhãn. “Tôi chọn giống Hương Chi và T6 bởi cây rất hợp với khí hậu, thổ nhưỡng ở đây, cho quả đều, đẹp, cùi dày và ngọt. Trồng nhãn chi phí đầu tư ban đầu hơi cao, thời gian chăm sóc đến khi thu hoạch khá lâu so với cây trồng khác song lại cho hiệu quả kinh tế lâu dài. Sau khi cây bắt đầu cho thu hoạch thì không cần tốn nhiều công chăm sóc như trước nữa. Giá nhãn cũng ổn định hơn”-anh Nghị nói.

Xã An Thành xác định nhiệm vụ trọng tâm là mở rộng diện tích ao, hồ nhằm phục vụ sản xuất nông nghiệp, đặc biệt là cây nhãn. Ảnh: Phương Vi
Xã An Thành (huyện Đak Pơ) ưu tiên cải tạo, mở rộng, làm mới ao, hồ để có nguồn nước phục vụ sản xuất nông nghiệp. Ảnh: Phương Vi


Ông Trương Công Hạnh-Chủ tịch UBND xã An Thành-cho hay: Toàn xã hiện có gần 15 ha nhãn. Hiện nay, người dân đang chuyển đổi dần diện tích kém hiệu quả sang trồng các loại cây ăn quả như: bưởi, chanh không hạt, chanh dây và nhãn. Trong đó, cây nhãn phát triển mạnh nhất do đem lại hiệu quả kinh tế rõ nét. Xã đặt mục tiêu đến năm 2025 hình thành thương hiệu “Nhãn An Thành”.

Để thực hiện mục tiêu ấy, Đảng ủy xã An Thành đã ban hành Nghị quyết về phát triển nông nghiệp gắn với xây dựng nông thôn mới. Ông Hạnh cho biết: “Định hướng của xã là từng bước hình thành các mô hình trồng cây ăn quả tập trung, ứng dụng khoa học kỹ thuật; khuyến khích bà con trồng một số loài cây ăn quả đặc trưng, có thế mạnh, phù hợp với điều kiện tự nhiên của xã, nhất là cây nhãn. Phấn đấu đến năm 2025, toàn xã có 40 ha nhãn, sản lượng 7 tấn/ha”.

Hiện tại, trên địa bàn xã vẫn chưa có công trình thủy lợi. Nguồn nước phục vụ sản xuất nông nghiệp phụ thuộc vào một số con suối nhỏ và ao hồ do người dân tự đào. Cùng với đó, các tuyến giao thông nội đồng chưa được hoàn thiện nên ảnh hưởng đến việc đi lại và vận chuyển nông sản. “Xã rà soát, đưa vào quy hoạch các công trình thủy lợi nhỏ, ưu tiên các khu vực cần cải tạo, mở rộng, làm mới ao, hồ chứa nước phù hợp với nhu cầu và điều kiện thực tế tại địa phương để có nguồn nước tưới phục vụ sản xuất, phát huy nội lực, tận dụng tiềm năng đất đai để phát triển cây ăn quả, trong đó ưu tiên mở rộng diện tích trồng nhãn”-Chủ tịch UBND xã An Thành nhấn mạnh.

 

PHƯƠNG VI

Có thể bạn quan tâm

Nâng cao giá trị ngành hàng chanh dây

Gia Lai đầu tư nâng cao giá trị ngành hàng chanh dây

(GLO)- Gia Lai có khoảng 5.500 ha chanh dây, sản lượng khoảng 210 nghìn tấn/năm. Từ quả chanh dây tươi, nhiều doanh nghiệp, hợp tác xã đã tạo ra nhiều sản phẩm như dịch cấp đông, nước ép cô đặc, tinh cốt..., qua đó mở rộng đầu ra, nâng giá trị và giảm áp lực tiêu thụ trong mùa thu hoạch.

2,5 triệu ha rừng keo và nghịch lý bán nguyên liệu giá rẻ

2,5 triệu ha rừng keo và nghịch lý bán nguyên liệu giá rẻ

(GLO)- Việt Nam hiện có khoảng 2,5 triệu ha rừng keo, chiếm phần lớn diện tích rừng keo của thế giới. Thế nhưng khoảng 80% sản lượng gỗ keo vẫn được đưa vào sản xuất dăm gỗ và viên nén, đặt ra bài toán chuyển từ bán nguyên liệu giá trị thấp sang chế biến sâu, tạo giá trị cao hơn.

Hạt dổi rớt giá, người trồng tiến thoái lưỡng nan

Hạt dổi rớt giá, người trồng tiến thoái lưỡng nan

(GLO)- Từng được thu mua với giá hơn 2 triệu đồng/kg, hạt dổi nay chỉ còn khoảng 20-25 ngàn đồng/kg nhưng vẫn khó tìm đầu ra. Tại các xã Sơn Lang, Đak Rong, Krong (tỉnh Gia Lai), nhiều hộ rơi vào cảnh tiến thoái lưỡng nan: giữ cây thì không có thu nhập, chặt bỏ lại tiếc vốn đầu tư và chăm sóc.

Ưu tiên nghiên cứu các giống cây trồng chủ lực

Ưu tiên nghiên cứu các giống cây trồng chủ lực

(GLO)- Bám sát định hướng sản xuất của tỉnh Gia Lai và các địa phương trong khu vực, Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Duyên hải Nam Trung Bộ (phường Quy Nhơn Nam) tập trung chọn tạo, chuyển giao các giống cây trồng có năng suất, chất lượng, khả năng thích ứng tốt.

Gạo hữu cơ, gạo đồ được nới điều kiện xuất khẩu từ tháng 10

Gạo hữu cơ, gạo đồ được nới điều kiện xuất khẩu từ tháng 10

(GLO)- Từ ngày 1-10, Nghị định 365/2026/NĐ-CP của Chính phủ có hiệu lực, tạo cơ chế thông thoáng hơn cho thương nhân xuất khẩu gạo hữu cơ, gạo đồ và gạo bổ sung vi chất dinh dưỡng. Các mặt hàng này được xuất khẩu mà không phải đáp ứng các điều kiện kinh doanh xuất khẩu gạo thông thường.

Thúc đẩy liên kết đa bên trong xây dựng, quản lý và duy trì mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói

Thúc đẩy liên kết đa bên trong xây dựng, quản lý và duy trì mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói

(GLO)- Sáng 25-9, tại phường Pleiku, Trung tâm Khuyến nông quốc gia (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) phối hợp với Sở Nông nghiệp và Môi trường Gia Lai tổ chức Tọa đàm liên kết doanh nghiệp, hợp tác xã và người sản xuất trong xây dựng, quản lý và duy trì mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói.

null