Gặp lại "chú voi con ở Bản Đôn"

Theo dõi Báo Gia Lai trên Google News
Tiêu bản
Tiêu bản "Chú voi con ở Bản Đôn" đang trưng bày tại Trung tâm Du lịch Buôn Đôn. Ảnh: H.V.M
“Chú voi con ở Bản Đôn/ Chưa có ngà nên còn trẻ con/ Từ rừng già chú đến với người/ Rất ham ăn với lại ham chơi...”. Chúng ta ai cũng ít nhiều ngân nga một vài đoạn bài hát “Chú voi con ở Bản Đôn” của nhạc sĩ Phạm Tuyên. Nhưng chắc chắn không nhiều người biết, nguyên mẫu của chú voi con trong bài hát là một con voi rừng lạc mẹ, hiện đã trở thành tiêu bản trưng bày ở Trung tâm Du lịch Buôn Đôn (tại Buôn Trí A, xã Krông An, huyện Buôn Đôn, tỉnh Đăk Lăk).
Chú “voi sữa” lạc rừng
Nhà trưng bày của khu du lịch Buôn Đôn được thiết kế tựa như ngôi nhà dài đặc trưng của người Êđê, nơi đây trưng bày rất nhiều dụng cụ cũng như những sản vật của dân tộc, từ những chiếc cồng chiêng đã gỉ sét cho đến những chiếc kìm, sợi dây thừng săn voi đã ngả màu, mọi thứ đều rất sống động và chân thực. Tuy nhiên, ấn tượng nhất với tôi khi đến đây vẫn là tiêu bản của một chú voi con đặt ở trong nhà trưng bày. Voi con cao khoảng 1m, còn khá nhỏ, bộ da thô ráp và cứng, trên da còn nhiều sợi lông tơ. Đôi mắt chú mở to, chiếc vòi uốn cong và miệng chú còn hé ra như đang chực gọi mẹ. Bốn chân của chú đứng choãi ra, mạnh mẽ, đang hướng về phía trước như muốn đuổi theo mẹ đòi bú. Có lẽ vì thế nên mấy chị hướng dẫn viên nơi đây thường gọi đùa chú là “voi sữa”.
Bất ngờ hơn nữa khi chị Hoa - hướng dẫn viên du lịch giới thiệu: Đây là chú voi con mà nhạc sĩ Phạm Tuyên đã gặp, và từ đó có cảm hứng sáng tác ra bài hát cho thiếu nhi nổi tiếng sau này. Theo chị Hoa thì nguồn gốc của chú voi này cũng rất lạ. Đây là chú voi rừng đi lạc được đem về nuôi chứ không phải là voi nhà sinh ra. Người dân trong buôn đã tìm thấy chú ngay bìa rừng, gần khu nghĩa trang mộ cổ của “Vua săn voi” Khun Junob hiện giờ. Thời điểm được tìm thấy, chú voi này đo theo chiều cao thì được khoảng 6 tháng tuổi. Voi rừng hay voi nhà ở Buôn Đôn thì chẳng có gì lạ. Tuy nhiên ở Buôn Đôn, người dân tộc Êđê chỉ săn và thuần hóa voi rừng có độ tuổi từ 2-4 tuổi. Và nguyên nhân chú voi con lạc mẹ đến đây, được phỏng đoán là do khi săn bắt voi, thợ săn dùng voi nhà truy đuổi vây ép voi rừng đến khi voi rừng hết đường chạy thì bắt trói chân, xích cổ lại, còn voi nhỏ sẽ không bắt. Vì vậy mà con voi này bơ vơ đi lạc đến buôn.
Không còn cách nào khác, Trung tâm Du lịch Buôn Đôn đành nuôi dưỡng chú voi con cùng đàn voi nhà ở đây (lúc này Buôn Đôn có trên dưới 30 con voi nhà làm nông và làm du lịch). Tuy nhiên chỉ được một thời gian, chú voi con lăn ra ốm và chết sau một thời gian chạy chữa. Lúc ấy, nó mới được 1 năm 2 tháng tuổi.
Chị Hoa kể: “Hồi chú voi con mới về, trong trung tâm ai cũng thương quý nên mọi người của ít lòng nhiều góp công sức, tiền bạc… để nuôi nó. Voi cũng như người, lúc bé rất cần hơi ấm của mẹ”. Chị Hoa bảo “ngày ấy có hai người ở gần chăm sóc chú voi con nhiều nhất là chị Cha Ly và chị H’núc. Mọi công việc từ vệ sinh, tắm rửa, đến pha sữa và cho nó bú bình đều do các chị làm. Đôi khi có cảm giác hai chị ấy coi voi như con của mình”.
Đáng tiếc là chúng tôi không thể gặp được được hai chị Cha Ly và chị H’núc vì họ không còn làm ở Trung tâm nữa và cũng không ai biết họ đang sinh sống ở đâu… Vì hoàn cảnh khá đặc biệt của chú voi con, một phần cũng do chú là nguyên mẫu, là nguồn cảm hứng ra đời của bài hát “Chú voi con ở Bản Đôn” của nhạc sĩ Phạm Tuyên, nên Trung tâm Du lịch Buôn Đôn đã dùng chú voi con làm tiêu bản, trưng bày tại Nhà Trưng bày và Thuyết trình của Trung tâm Du lịch Buôn Đôn từ năm 2000 cho đến nay.
“Không có voi to thì viết voi con…”.
Ở nước mình bây giờ, hễ nhắc đến voi là từ trong tiềm thức, người ta nhắc đến Buôn Đôn của Tây Nguyên lộng gió. Và nhớ đến Buôn Đôn là lập tức có người môi sẽ mấp máy giai điệu bài hát "chú voi con ở Bản Đôn” rất vui nhộn và trong trẻo. Đây là một bài hát gắn liền với tuổi thơ của nhiều thế hệ trên khắp mọi nẻo đường đất nước.
Còn nhớ 2 năm trước, tôi có gặp và phỏng vấn nhạc sĩ Phạm Tuyên cho một chuyên đề về âm nhạc thiếu nhi Việt Nam. Và nhạc sĩ Phạm Tuyên đã rưng rưng khi nghe tôi nhắc lại chuyện “Chú voi con ở Bản Đôn” cùng những bức ảnh tiêu bản về chú voi đang được trưng bày tại Trung tâm Du lịch Buôn Đôn. Theo hồi ức của nhạc sĩ Phạm Tuyên thì năm 1983, ông cùng nhạc sĩ Nguyễn Đức Toàn, nhạc sĩ Hoàng Vân đi thực tế ở Đắk Lắk. Cán bộ tỉnh giới thiệu ba ông về Buôn Đôn - nơi có truyền thống thuần dưỡng voi để thực tế.
Tuy nhiên khi 3 nhạc sĩ tìm đến Buôn Đôn thì đàn voi lớn đi rừng làm việc hết, đi quanh bản ông chỉ thấy mỗi chú voi con nhốt trong một góc nhà. Thấy vậy nhạc sĩ Phạm Tuyên cười dí dỏm: “Không có voi to thì viết về voi con vậy”. Ai cũng ngỡ ông đùa, nhưng đến tối, ông mang bài hát “Chú voi con ở Bản Đôn” vừa sang tác xong ra dạy cho các em thiếu nhi trong bản thì ai cũng ngỡ ngàng bởi giai điệu âm nhạc Êđê thân thuộc cùng với ca từ ngộ nghĩnh và đáng yêu…
Chỉ một thời gian ngắn sau khi bài hát được nhạc sĩ Phạm Tuyên công bố, “Chú voi con ở Bản Đôn” trở thành một biểu tượng của Đăk Lăk. “Điều mà tôi vừa bất ngờ, lại vui nhất là hôm đó có cô Quỳnh Mai, người hay viết nhạc hiệu cho Đài Truyền hình Đắk Lắk lúc đó, đã lấy luôn bài hát “Chú voi con ở Bản Đôn” phát lên Đài Phát thanh Truyền hình của tỉnh Đăk Lăk, rồi chọn luôn bài hát của tôi làm nhạc hiệu cho đài. Thế là bài hát cứ thế phát cả ngày, người nghe cũng ngân nga hát theo. Điều đó cho tôi thấy rằng có sự bình đẳng nghệ thuật giữa người lớn và trẻ con. Một bài ca thiếu nhi mà được chọn làm nhạc hiệu như vậy là lớn và oai lắm…”, nhạc sĩ Phạm Tuyên nhớ lại.
Và không chỉ ở Đắk Lắk, “Chú voi con ở Bản Đôn” còn được báo Thiếu niên Tiền Phong giới thiệu trên số Tết Trung Thu năm 1983, được các đài Truyền hình Việt Nam, Tiếng nói Việt Nam tổ chức dàn dựng và phát rộng rãi trên sóng. Bộ GD&ĐT cũng đưa “Chú voi con ở Bản Đôn” vào sách giáo khoa lớp 4 (NXB Giáo dục năm 1984). Rồi cán bộ và nhân dân Đăk Lăk đã mời bằng được nhạc sĩ Phạm Tuyên vào Tây Nguyên lần nữa để tỏ lòng tri ân và tặng cho nhạc sĩ một bức phù điêu hình chú voi Buôn Đôn bằng gỗ - được nhạc sĩ xem là một trong những kỷ vật trân quý nhất đời làm nghề của mình. 
Voi chở khách du lịch ở Trung tâm Du lịch Buôn Đôn.
Voi chở khách du lịch ở Trung tâm Du lịch Buôn Đôn.
Vẫn còn hai chú voi con lạc mẹ khác
Ở Buôn Đôn, ngoài chú voi con tiêu bản, hiện vẫn còn hai chú voi con lạc mẹ khác đang được Trạm chăm sóc và điều trị sau cứu hộ (thuộc Trung tâm Bảo tồn voi Đắk Lắk) nuôi dưỡng. Một là chú voi Jun, năm nay hơn 6 tuổi, bị mắc bẫy thú của người dân trong một lần theo đàn đi kiếm ăn năm 2015, được Trung tâm Bảo tồn voi cứu về trong tình trạng bị thương rất nặng ở chân và vòi. Sau gần 2 năm chữa chạy, Jun bây giờ trông như một đứa trẻ khuyết tật với chân trước bên phải bước chấm phẩy và cái vòi bị thủng ngay đoạn giữa.
Chú voi còn lại là Gold được cứu về sau một lần... té giếng đúng nghĩa và lạc đàn lúc mới 4 tháng tuổi. Vì Gold lúc đó còn quá nhỏ nên sau khi mang về sơ cứu cho hoàn hồn, những cán bộ của Trung tâm Bảo tồn voi quyết định phối hợp với Tổ chức Động vật Châu Á thả về rừng vì sợ ở với con người sẽ không sống nổi. Tuy nhiên sau 4 lần thả về rừng không thành công (trên thế giới đến thời điểm này vẫn chưa có nước nào trả voi rừng về thành công), Trạm quyết định mang voi Gold - một “đứa trẻ” 4 tháng tuổi về nuôi dưỡng cùng với voi Jun.
Đặc biệt ngoài con người, voi Jun và Gold còn được kèm cặp bởi những “bảo mẫu” là hai con voi nhà do Trạm thuê về để dạy những kỹ năng mà con người không dạy được. Hiện cả hai voi Jun và Gold vẫn đang sống và được xem là một kỳ tích dù “chúng tôi vẫn chưa thể an tâm khi nguy cơ chết vẫn còn rất cao” như lời của anh Phan Phú - Tổ trưởng Tổ chăm sóc voi cứu hộ thuộc Trung tâm Bảo tồn voi Đắk Lắk. 

Tôi nhắc chuyện cái chết của “Chú voi con ở Bản Đôn”, Phú cười bảo thời đó voi con hoang dã lạc mẹ sống được với con người mới lạ vì chăm sóc voi đòi hỏi rất nhiều kỹ năng, ngay cả việc cho uống sữa gì, uống như thế nào là đúng cách cũng phải học. Phú bảo chăm sóc voi con, ví như voi Gold hiện nay còn vất vả hơn cả chăm sóc trẻ sơ sinh và tốn kém thì không tưởng tượng được (hiện tiền ăn và sữa trung bình của voi Gold một ngày khoảng... 1 triệu đồng, trong khi voi Jun ít hơn - khoảng 300 ngàn đồng).

Hoàng Văn Minh (LĐO)

Có thể bạn quan tâm

Bám rừng giữ “báu vật” giáng hương

Bám rừng giữ “báu vật” giáng hương

(GLO)- Ẩn giữa rừng sâu xã Krong (tỉnh Gia Lai), những căn lán nhỏ được dựng ngay dưới gốc giáng hương cổ thụ. Đó là nơi lực lượng bảo vệ rừng ăn ngủ, thay nhau canh giữ từng cây hương quý - những “báu vật” của đại ngàn.

Bộ đội Biên phòng lan tỏa không khí bầu cử nơi biên giới

Bộ đội Biên phòng lan tỏa không khí ngày hội lớn của toàn dân nơi biên giới

(GLO)- Những ngày cận kề cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026-2031, cán bộ, chiến sĩ Đồn Biên phòng Ia Mơ (tỉnh Gia Lai) phối hợp với chính quyền, già làng, người uy tín đến từng làng tuyên truyền, vận động bà con sẵn sàng tham gia ngày hội lớn của toàn dân.

Đội SOS Long Hải: Giữ bình yên cho những cung đường

Đội SOS Long Hải: Giữ bình yên cho những cung đường

Khi phố xá đã lên đèn và nhiều gia đình yên giấc, trên những tuyến đường thuộc xã Long Hải (TPHCM) vẫn có những ánh đèn xe lặng lẽ di chuyển. Đó là ánh đèn của Đội SOS Long Hải - nhóm thanh niên tình nguyện đã suốt 7 năm qua hỗ trợ người dân gặp sự cố giao thông trong đêm.

Đêm đập trống dưới ánh trăng rừng

Đêm đập trống dưới ánh trăng rừng

Giữa vùng lõi của Vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng, nơi núi đá vôi dựng đứng như những bức tường thành và rừng già nối tiếp đến tận biên Việt - Lào, có một lễ hội mà mỗi nhịp trống vang lên dường như làm nghiêng ngả cả đại ngàn: Lễ hội Đập trống của người Ma Coong.

'Rừng thiêng' giữa đại ngàn

'Rừng thiêng' giữa đại ngàn

Giữa đại ngàn Trường Sơn hùng vĩ, nơi mây trắng quấn quýt những đỉnh núi của vùng cao Đà Nẵng, có một cánh rừng không chỉ xanh bởi lá, mà còn xanh bởi ký ức. Người dân gọi đó là 'rừng bác Năm Công'.

Cán bộ trại giam động viên, chia sẻ với phạm nhân.

Tình người sau cánh cổng trại giam

(GLO)- Từ những câu chuyện rất thật của người trong cuộc, có thể thấy tính nhân văn trong công tác giáo dục, cải tạo phạm nhân tại Trại tạm giam số 1, Công an tỉnh Gia Lai. Đó là nơi cán bộ, chiến sĩ đang kiên trì cảm hóa những người lầm lỗi bằng trách nhiệm và lòng nhân ái.

Vị linh mục hiến kế chống Pháp

Vị linh mục hiến kế chống Pháp

(GLO)- “Chuyện giặc Pháp xâm lăng ngang ngược, xin ra lịnh cho người có đạo giúp nước lập công, ai phản nghịch sẽ giết cả họ. Kẻ có đạo dù có thịt nát xương tan cũng cố báo đền ơn nước, quyết chẳng hai lòng”.

Ấm áp những ngôi nhà tái định cư

Ấm áp những ngôi nhà tái định cư

(GLO)- Về thăm những khu tái định cư vùng thiên tai trên địa bàn tỉnh Gia Lai, chúng tôi cảm nhận được mùa xuân ấm áp đang về cùng với sắc hoa tươi thắm, khung cảnh sản xuất, sinh hoạt nhộn nhịp đang định hình trên vùng đất mới.

Ngôi làng Bahnar bị "bỏ quên" giữa núi rừng.

Ngôi làng Bahnar bị "bỏ quên" giữa núi rừng

(GLO)- Một ngôi làng Bahnar không người ở, bị "bỏ quên" giữa núi rừng Tây Nguyên nhưng vẫn hấp dẫn nhiều du khách ghé thăm nhờ vẻ đẹp nguyên sơ của thiên nhiên và kiến trúc nhà truyền thống. Đó là làng Kon Sơ Lăl cũ (xã Ia Khươl, tỉnh Gia Lai).

Giấc mơ về một khu vườn sáng

Giấc mơ về một khu vườn sáng

Vân Anh năm nay 40 tuổi, sống cách Hoàn Kiếm của Hà Nội chỉ hơn chục cây số. Chị từng là giám đốc điều hành của một công ty có hàng trăm nhân viên, quen với áp lực, nhịp sống gấp gáp và những quyết định lớn nhỏ mỗi ngày.

Rẫy chung ở Đak Đoa

Rẫy chung ở Đak Đoa

(GLO)- Giữa những đồi cà phê vào độ chín rộ ở xã Đak Đoa, có những khu rẫy không thuộc về riêng một hộ nào. Đó là rẫy chung - mảnh đất “không chia phần” của cộng đồng, nơi bà con cùng góp công vun trồng, chăm sóc qua từng mùa, lặng lẽ tích lũy thành nguồn lực chung để lo việc thôn, việc làng.

Xuân về làng gốm 500 năm tuổi

Xuân về làng gốm 500 năm tuổi

Từng đoàn khách dập dìu men theo con đường nhỏ dẫn vào làng gốm Thanh Hà (phường Hội An Tây, TP. Đà Nẵng). Ngôi làng nhỏ gần 500 năm tuổi bên dòng Thu Bồn, nơi các thế hệ truyền nhau gìn giữ làng nghề nổi danh xứ Quảng.

Dựng cơ đồ bạc tỷ trên cát trắng

Dựng cơ đồ bạc tỷ trên cát trắng

(GLO)- Trên vùng đất cát trắng bạc màu, “khỉ ho cò gáy”, nông dân Nguyễn Xuân Ánh (SN 1972, thôn Thuận Phong, xã Hội Sơn) đã bền bỉ dựng nên một trang trại tổng hợp gần 10 ha, bình quân lợi nhuận 500 - 700 triệu đồng/năm.

null